TRANG THƠ HAIKU TIẾNG VIỆT

quẹt ngang ngày tháng

You are not logged in.

Mến chào bạn đến cùng trang thơ haiku Việt

bashoissashikibuson

Adverts

#1 2011-08-10 14:22:12

kgr
ngắm trăng
Registered: 2011-03-30
Posts: 2038

Về miền sâu thâm - Ly Lan

(Theo dòng thơ văn của Matsuo Bashoo, nhà thơ Nhật Bản thế kỷ 17)
http://kicon.com/theky21/issues/No108/h … lylan.html

"Tháng ngày là vị du hành vĩnh cửu, đến rồi đi như những lữ khách."
(Matsuo Bashoo)

Xưa nữ sĩ Ono no Komachi đã cất tiếng than:

Đau xót nhìn sắc hoa phai,
Kiếp nhân sinh tựa mưa rơi.

Giữa hai chiều không gian và thời gian, con người từ khi đến với cõi thế này đã phải chấp nhận sự hữu hạn của năm tháng. Do vậy mà luôn ước ao tìm đến cõi vĩnh hằng. Những chuyến du hành phải chăng là niềm mong muốn phá vỡ đi sự câu thúc chiều còn lại trong vũ trụ để tìm ra cho được sự rộng mở, khai phóng của khoảng không tồn tại? Cách nay hơn ba trăm năm, một thi nhân đã lên đường đi tìm về miền sâu thẳm của thiên nhiên, thi ca, dấu xưa, tình người để đạt đến sự tận chân, tận thiện, tận mỹ. "Lối hẹp dẫn về miền Oku" của Matsuo Bashoo là tập kỷ hành và thi ca cho cuộc lữ hành về miền sâu thẳm đó.

Vào thời Bashoo, nông dân không được phép dời nhà hay trốn sang làng khác. Những người bỏ trốn bị gọi là "đào tản" hay "thứ lạc." Họ không được phép đi du hành. Những nông dân hay thứ dân muốn đi xa khỏi làng quê phải xin phép thôn dịch hay lãnh chủ, đóng lệ phí để nhận giấy phép. Bashoo từ năm hai mươi chín tuổi đã quyết dấn vào con đường thi ca nên từ bỏ tước hiệu Samurai để lên Edo sống đời thứ dân. Trong cái khuôn khổ th¡t ngặt của xã hội như vậy, ông vẫn luôn dấn mình vào những cuộc du hành dài.

Ngày 27 tháng Ba âm lịch năm 1689, Bashoo cùng một môn đệ của mình là Sora b¡t đầu cuộc hành trình từ sông Fukagawa - Edo (nay là Tokyo) đến Ooshuu hay còn được gọi là Michinoku ở phía b¡c đảo Honshuu. "Oku" là tên lược t¡t của vùng này trong thi văn. Theo nghĩa từ nguyên, "Oku" (Áo) được biểu hiện bằng hình vẽ một đôi bàn tay đang lần tìm những đồ vật đặt ngổn ngang sâu bên trong mái nhà. Hình vẽ này hàm nghĩa "nơi ở sâu bên trong," "lối dẫn sâu vào bên trong," và cả nghĩa bóng "điều sâu xa, bí ẩn." Bashoo chọn tên gọi Oku vào tựa đề tác phẩm hẳn là có nhiều điều ngụ ý ở trong đó.

Thời đấy trung bình một ngày người ta đi bộ được chín lý (gần 36 cây số) nhưng thường người ta đi thuyền hay đi ngựa cho những chặng đường xa. Ấy vậy mà Bashoo đã chọn con đường bộ hành cho quãng hành trình dài sáu trăm lý (2400 cây số) trong vòng một trăm năm mươi mốt ngày, thảng hoặc mới dùng thuyền hay ngựa. Đường đi của ông có những ngày rét run vì băng qua rừng dày sương đọng:

"Con đường đúng như chủ nhà đã tả băng qua núi cao rừng dày đến nỗi không nghe được cả một tiếng chim. Cảnh vật rất tối dưới tàn cây, tối như thể đang đi trong đêm vậy. Có cảm giác như "sương rơi từ rìa mây," chúng tôi luồn lách qua bụi rậm của cỏ tre, lội băng qua suối và lại trèo lên vách đá. Cuối cùng thì tới được thành phố Mogami, người chúng tôi ướt lạnh."

Có những ngày lăn lóc bệnh tật nơi quán trọ :

"Thật là một nhà trọ thảm hại với đệm rơm trải trên sàn dơ bẩn, thậm chí không có cả đèn lồng, chúng tôi dọn chỗ ngủ bằng ánh sáng h¡t ra từ đám lửa lò sưởi và nằm lăn ra. Sấm gầm trong đêm, mưa rơi không dứt, nước mưa chảy vào chỗ chúng tôi nằm, khó chịu hơn cả là bọ chét và muỗi tra tấn đến không thể ngủ được. Cơn bệnh thâm căn tái phát làm tôi ngất đi."

Và cũng không thiếu những thác ghềnh hiểm nguy:

"Xuyên qua làn lá xanh đang rơi lả tả, chúng tôi có thể thấy thác Bạch Mịch. Tiên Nhân Đường nằm đối mặt với bờ sông. Dòng sông cuộn chảy dữ dội và thuyền dấn vào chỗ nguy hiểm."

Thế nhưng ông chấp nhận tất cả. Ông viết: "Dù cảm thấy bị bệnh tật câu thúc, nhưng tôi đã quan niệm xả thân vô thường kể từ khi dấn bước đến những vùng biên thổ hoang biệt này, nếu phải tử nạn trên đường đi chăng nữa thì đó là Thiên Mệnh." Niềm lay động sâu xa trước "một đám mây đơn độc, trôi giạt trong gió mà vẫn giữ mãi ước vọng lãng du" vẫn ngân rung trong tâm trí thi nhân.

Khi đọc những đoạn thi nhân dấn mình vào sương mù khí núi hay lút chân trong bãi cát dài bên bờ biển hẳn là bạn đọc sẽ nhớ lại những ngôi làng nhỏ bé bên vách núi, những con sông hẹp chảy giữa núi đá, những bờ biển hoang sơ, s¡c lá phong đỏ độ sang thu, những cánh đồng cỏ dại mọc lan trên cát mà không chừng ta đã đi qua đâu đó trong cuộc đời mình. Chúng ngẫu nhiên cùng nằm trên một phần đường của cuộc du hành dài này của thi nhân hay nói đúng hơn ta cũng b¡t gặp một phần nào những tâm tình, những nỗi hoài cảm hay niềm suy tư về kiếp người của chính ta trên con đường dài này. Do vậy mà cứ ngỡ như đang tự viết lại nhật ký đi đường cho chính ta vậy.

Thiên nhiên trong những trang viết của ông đẹp một cách trang nhã. Khi đến cửa Bạch Xuyên Quan, đang giữa mùa hạ mà giữa sắc tr¡ng của cỏ hoa hoang dại ông ngỡ rằng mình đang đi trong tuyết. Thơ ông hàm chứa cái đẹp vĩ đại của những thiên hà trong vũ trụ. Tỷ dụ như bên sông Mogami,

Đỉnh mây tan vỡ đầu trăng núi.
hay bên bờ biển Kisakata,
Biển hoang dải Thiên Hà
viết ngang đảo Sado.

Nhưng khi ước tìm đường đến mặt trời và mặt trăng qua cổng mây trên núi cao ông vẫn không quên lưu tâm đến những vẻ đẹp nhỏ ẩn khuất trong nhành cây bụi cỏ. Bên bờ sông Mogami, ông viết: "Tôi ngồi trên hòn đá trong chốc lát, chú tâm đến gốc đào cao ba xích, nụ hoa đang hé nở phân nửa. Tôi nghĩ rằng dù có bị sương tuyết vùi dập đi nữa cội đào vẫn không quên mùa xuân mà g¡ng nở muộn những đóa hoa kiều diễm biết bao!"

Những ghi nhận về s¡c màu và dáng nét của cảnh vật thật độc đáo, đôi khi có phần quyết liệt. Dáng cành thông tạo nên một vệt xanh sẫm uốn khúc hằn trên s¡c tr¡ng của bãi cát và xa kia là biển xanh tạo thành bức tranh nhiều tầng cảnh, cả cận lẫn viễn.

"Màu xanh lục của thông tạo nên bóng tối kỳ diệu, những cành thông không ngớt oằn xuống trước các cơn gió biển, do vậy mà thuận theo tự nhiên, chúng giữ dáng vẻ cong queo."

Mặt trời trong thơ ông vừa rực rỡ nóng chói vừa dìm mình trong gió nước mát lạnh. Sự tương phản này gây ấn tượng thật mạnh mẽ.

Đỏ, chói đỏ
vầng dương rực cháy trong gió thu.
Sông Mogami đưa mặt trời
nóng chói t¡m mình vào biển.

Thanh âm trong thơ ông thiên lấy động tả tĩnh như truyền thống cổ thi nhưng s¡c bén, đầy cá tính. Trong khung cảnh đất đá mòn phủ rêu xanh, diệu kỳ và tịch mạc ở ngôi chùa cổ, ông l¡ng nghe:

Tiếng ve kêu châm vào đá nỗi yên lặng.

Bên cạnh những trang viết miêu tả rất đẹp này, ta lại bất ngờ đón nhận một nụ cười dí dỏm nhưng vẫn bao dung, ẩn sau làn mưa rơi mùa hạ. Đi giữa đường mưa gió trơn trợt đến Đảo Dù, nhà thơ ao ước:

Đảo Dù nằm nơi nao trên con đường tháng Năm lầy lội.

Tình người luôn thấm đẫm trong tác phẩm của ông. Lần theo dấu người xưa, ông đã bao lần rơi lệ cho chuyện "thương hải biến vi tang điền." Tìm thăm một ngôi chùa cổ bị bỏ hoang phế, ông đau xót thốt lên:

"Nhị Đường của chùa Chuuson (2) mà tôi nghe danh may thay đều mở cửa cả hai. Kinh Đường lưu lại tượng của ba vị tướng dòng Hiraizumi; Quang Đường giữ quan tài (3) tam đại của dòng họ này cùng đặt với tượng Phật Tam Ân. Thất bảo vật tản mác và mất đi, gió làm gãy đổ những cánh cửa cẩn đá quý, sương tuyết làm tróc lớp sơn thếp vàng các cột kèo. Ngôi chùa bị hư hỏng hoàn toàn và chuyển sang tình trạng hoang phế, cỏ mọc lan vây quanh tứ diện, mái ngói không sao chống đỡ nổi với gió mưa. Kỷ niệm ngàn năm bỗng chốc thành tan nát."

Ng¡m chiếc mũ lão tướng một thời oai dũng nay nằm lăn lóc trên cỏ, Ông mượn tiếng dế kêu để cất tiếng thở dài cho vinh quang hư ảo.

Buồn thay sự tàn khốc, bên dưới mũ chiến chú dế kêu.

Mỗi cuộc chia tay với bạn bè đều làm ông buồn bã, tiếc nuối dù chúng chỉ là sự chia tay trong thời gian ng¡n ngủi hay vĩnh viễn. Ngày lên đường, bạn bè đến tiễn nơi bến đò, khi thuyền rời bến Senju, ông có cảm giác như đang "đứng giữa ngã tư của khoảng không hư ảo, m¡t nhòa lệ biệt ly." Trên đường trường "dù chia tay với đệ tử chỉ mới một đêm thôi mà tưởng như đã xa nhau thiên lý." Isshoo (1653-1688) là thầy Trà đạo được biết đến trong giới tao nhân. Ông ta còn là nhà thơ nổi tiếng của vùng Kanazawa. Ông ta đã ao ước gặp mặt Bashoo và chờ Bashoo cho đến tận lúc mất. Bashoo định đến thăm bạn thì bạn đã hoá ra người thiên cổ nên sửng sốt khóc bạn:

Tiếng khóc lay mộ chuyển thành ngọn thu phong.

Những người ông gặp gỡ ngẫu nhiên trên đường đi thảy đều để lại trong ông một tấm tình ưu ái. Ông trân quý cho một tiếng đàn của pháp sư mù ở Mino Matsu Yama:

"Đêm đó tôi nghe một pháp sư mù gảy đàn Biwa (1) và hát những truyện thơ của B¡c phương. Chúng rất khác biệt với những truyện kể về chiến trận hay các bài ca vũ, thanh âm cao vút, mộc mạc từ giọng ông ta vang gần sát bên gối nằm của tôi tuy buồn thảm nhưng nó mang cho tôi một niềm thích thú đặc biệt vì truyền thống kể chuyện thơ xưa không bị bỏ quên tại vùng biên thổ này."

Ông nói chuyện với trẻ thơ trên đường, tiếc phải chia tay với trai làng nơi chân núi, cảm phục những nông dân tốt bụng trên đường đi, ái ngại cho cả những "cô gái giang hồ." Đọc văn ông tới đâu thấy ấm cả lòng vì tình thương mến tràn đầy trong đó.

Gấp lại tập kỷ hành của ông, trước m¡t tôi lối dẫn về miền sâu thẳm của thi ca, của thế giới như đang mở ra, mời gọi tha thiết. Tin rằng một khi dấn mình vào miền sâu thẳm đó thì sẽ đón nhận được sự vĩnh hằng của "Cái Đẹp" song tồn với sự vĩnh cửu của vị "lữ khách thời gian."

28/2/98

Ghi chú:

Bố Bashoo kế nghiệp cha ông, lãnh chức "Chân Tả Vệ Môn" ở thành Shitamachi thuộc vùng Ueno nhưng vẫn tự bảo mình là "vô túc nhân" đó là do ông chỉ giữ thân phận bậc thấp trong hàng võ sĩ đạo. Nhà phải kiêm thêm việc làm ruộng để sinh sống. Vào khoảng năm Bashoo được mười chín tuổi, ông đến nương nhờ nhà bạn ông, một quý tộc tên là Toodoo Yoshitada (Sengin) ở thành phố Akazaka. Nhờ được Yoshitada giới thiệu, ông có dịp tập rèn thơ với nhà thơ và nhà phê bình xuất s¡c Kitamura Kigin. Năm 1666, Yoshitada bị bệnh mất, ông rời khỏi nhà của dòng họ Toodoo quay về nhà anh trai của mình và định quyết tâm theo đuổi con đường thơ haikai. Năm Bashoo 29 tuổi, ông xin anh (người trung tâm trong gia tộc thay cha ông đã mất), bỏ nghiệp võ sĩ đạo ở Ueno để lên Edo và mưu sinh bằng nghề thơ haikai. Anh ông phản đối mạnh mẽ, nhưng nhờ em gái ông năn nỉ giúp mà Bashoo được phép lên đường đi Edo. Những nghệ nhân haikai thời đó thường được giới thương nhân tài trợ về kim tiền và ngược lại phải làm thơ mua vui cho những thương nhân giầu có. Xã hội thời Edo chia thứ bậc thấp cao. Giới võ sĩ đạo chịu nhiều quy định ràng buộc về sĩ hạnh nên không thể nào đặt mình dưới tầng lớp thương nhân được. Có lẽ vì thế mà Bashoo phải chọn lựa con đường từ bỏ giai tầng Samurai của mình để dấn vào nghiệp thơ haikai.

Từ mạt kỳ thời đại Muromachi (thế kỷ XVI), thơ theo thể Haikai đã được b¡t đầu với các tên tuổi Yamasagi Sookan, Arakida Moritake. Thể Haikai g¡n bó với truyền thống thi ca Nhật Bản như thế nào? Các quý tộc trong cung đình thời đại Heian (794- 1185) đã sáng tác một số bài thơ theo thể Renga (Liên Ca). Thể thơ này là sự phát triển tiếp nối của thể Waka (Hoà Ca) (Hoà là từ để chỉ nước Nhật Bản), Waka có bố cục về âm tiết 5-7-5-7-7. Từ Haikai, xưa vốn có nghĩa là lời nói đùa, trò hề hay nói chung là những loại văn chương có tính cách như vậy. Do đó những bài Renga có tính dí dỏm, khôi hài do hai người đứng ra xướng họa gọi là Renga no Haikai, sau được gọi lược t¡t thành Haikai. Đến thế kỷ XVII nó thành thể thơ giải trí của đại chúng, đặc biệt là lớp thương nhân giàu có.

Đoạn thơ mở đầu của thể Renga được gọi là Hokku (Phát cú) gồm các âm tiết được ng¡t nhịp 5-7-5. Sau khi vị khách chính đặt xong phần Hokku, chủ đặt phần Waki Ku (phần bên hông) ng¡t nhịp 7-7 trong đó có lặp lại một yếu tố của phần Hokku. Kế đó là phần Daisan (đệ tam) ng¡t nhịp 5-7-5 phát triển bài thơ theo hướng khác dù chỉ giữ một ít liên hệ với các phần đầu. Khi nó được tiếp nối đến lần thứ ba mươi sáu thì gọi là Kasen (Ca Tiên), lần thứ bốn mươi bốn thì gọi là Yoyoshi (Thế Cát), lần thứ năm mươi thì gọi là Gojuu In (Ngũ Thập Vận), lần thứ một trăm thì gọi là Hyaku In (Bách Vận), lần thứ một ngàn thì gọi là Toppyaku In (Thập Bách Vận), lần thứ một vạn thì gọi là Manku (Vạn Cú). Phần kết bài thơ được gọi là Age Ku (Cử Cú) ng¡t nhịp với 7-7. Tất cả những phần thơ ở giữa đều gọi là Hirai Ku (Bình Cú).

Bashoo đã phát triển phần Hokku trong thể Renga ra thành một thể thơ độc lập. Masaoka Shiki (1867-1902) hoàn thiện sự tách biệt này thêm nữa và chuyển sang gọi nó là thể Haiku.

Bashoo sống ở thế kỷ XVII còn từ "haiku" thì lại ra đời vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Tác giả chọn từ "haikai," dù từ "haiku" gần gũi với nhiều người hơn. Các sách văn học sử Nhật Bản khi viết về thời đại Bashoo, cũng dùng từ "haikai."

Ly Lan

Offline

 

2011-08-10 14:22:12

AdBot
Advertisements

Adverts

Board footer

Powered by FluxBB
Hosted by PunBB-Hosting