TRANG THƠ HAIKU TIẾNG VIỆT

quẹt ngang ngày tháng

You are not logged in.

Mến chào bạn đến cùng trang thơ haiku Việt

bashoissashikibuson

Adverts

#1 2011-08-10 14:16:42

kgr
ngắm trăng
Registered: 2011-03-30
Posts: 2038

Cóc và Thiền - Ngọc Bảo

http://cnb.angeltowns.com/cocvathien/cocvathien.htm

Haiku là một loại thơ sáng tạo đặc biệt của Nhật Bản , không chỉ vì tính cách ngắn gọn , đi thẳng vào lòng người , mà còn vì hương vị đậm đà của Thiền thấm sâu trong đó . Trong những bài thơ haiku bất hủ để lại cho đời, có lẽ độc đáo nhất là bài thơ con cóc của Matsuo Basho .

Một ngày mùa xuân , thi sĩ ngồi tĩnh tâm bên bờ nước trong vườn . Trời mưa nhè nhẹ , văng vẳng đâu đây tiếng chim bồ câu rung rúc vang vọng lại . Một cơn gió phất phơ thổi đến , làm bay lả tả vài cánh hoa anh đào rơi rụng xuống đất . Một ngày đẹp tuyệt vời vào cuối tháng ba , khiến ta như muốn nó kéo dài mãi mãi . Và thi sĩ ngồi đó , trầm mình trong thiền định , tận hưởng từng sát na của giây phút hiện tại trong sự giao hòa của cái hữu hạn và vô hạn , cái vô thường và hữu thường . Chợt có tiếng con cóc nhẩy ào vào trong ao làm khuấy động mặt nước , như khuấy động sự tĩnh lặng trong tâm ông , và thi sĩ đã buột miệng nói lên :

Con cóc nhẩy vào
Tiếng nước tung tóe !

Và để hoàn thành bài thơ, Basho đã làm câu trên là :

Ao xưa

Và thế là , bài thơ bất hủ con cóc đã được ghi lại như sau :

Ao xưa
Con cóc nhẩy vào
Tiếng nước tung tóe !

Và để hoàn thành bài thơ, Basho đã làm câu trên là :

Bài thơ này có gì mà nổi tiếng như vậy ? Nếu so sánh với bài thơ " Con cóc trong hang " của Việt Nam , bài thơ này cũng có nhiều điểm tương tự. Nhưng trong khi bài thơ của Basho là một tuyệt tác lừng danh thế giới, thì bài thơ con cóc của Việt Nam lại biến thành một đề tài tiếu lâm , để châm biếm những người không biết làm thơ mà lại cứ cố nặn ra vần thơ .

Con cóc trong hang
Con cóc nhẩy ra
Con cóc ngồi đó
Con cóc nhẩy đi

Sở dĩ bài thơ con cóc của Basho là một tuyệt tác , vì đó là tác phẩm trong đó nét thiền vị chan hòa , thấm thấu vào lòng người . Thiền là gì ? Có lẽ ít ai định nghĩa được thiền là gì , bởi vì khi cố gắng định nghĩa là đã xa rời ý nghĩa của Thiền rồi . Vua Trần Nhân Tông , sơ tổ Trúc Lâm đã nói: " Ðối cảnh không tâm chớ hỏi Thiền " . Tuy nhiên , nói về phương tiện, theo thiển ý , thiền là phản chiếu lại nội tâm để nhận thức bản chất của sự hiện hữu của chính mình , và từ đó , có một cái nhìn đúng thực về tương quan của vạn pháp . Thiền là đi thẳng và thâm nhập vào gốc rễ của mọi sự , và gốc rễ ấy không đâu khác hơn là Tâm của chúng ta . Và khi đã biết được gốc Tâm luôn luôn sáng suốt , không lặng và thường hằng , thiền là sống trong sự tỉnh giác , sáng suốt không lặng ấy , nhìn mọi sự trong thực tướng Như Như của chúng , và nhận biết được sự huyễn hóa của ngoại cảnh nên không còn thả ý chạy theo ngoại cảnh . Vì vậy , thiền giả nhìn con cóc nhẩy vào trong ao làm nước bắn tung tóe khuấy động sự tĩnh lặng trong vườn cây , nhưng đó chỉ là một hình ảnh chợt gợi lên rồi lặng xuống , tiếng nước chao động cũng chỉ thoáng qua rồi lặn đi , không có gì phải vướng mắc hay lưu luyến . Cái thấy nghe ngay lúc ấy và trong mọi lúc mới là cái chính , không phải là con cóc nhẩy vào trong ao . Nói một cách khác , thiền giả nghe tiếng động để rồi trở về với bản chất tánh nghe của mình , nhìn trần cảnh để rồi trở về bản chất tánh thấy của mình ; bản chất tánh nghe , tánh thấy ấy không đâu khác hơn là ở trong sự sáng suốt không lặng bao trùm của Tâm . Lúc bấy giờ trong sự không rỗng trong sáng ấy , tâm thiền giả có khác gì mặt nước hồ trong , thấy chim nhạn bay qua nhưng không lưu lại bóng hình .

Nhạn quá trường không
Ảnh trầm hàn thủy
Nhạn vô di tích chi ý
Thủy vô lưu ảnh chi tâm

dịch :

Nhạn bay trên không trung
Bóng chìm đáy nước lạnh
Nhạn không ý để dấu
Nước không tâm lưu bóng

                                                                      ]

Khi xưa , đức Như Lai bào La Hầu La đánh một tiếng chuông rồi hỏi ông A Nan rằng : " Nay ông có nghe chăng ?"

Ông A Nan và đại chúng đều đáp : " Dạ có nghe ."

Khi tiếng chuông hết ngân , Phật lại hỏi : " Nay ông có nghe chăng?"

Ông A Nan và đại chúng đều đáp : "Dạ không nghe ."

Khi ấy , La Hầu La lại đánh một tiếng chuông nữa . Phật lại hỏi : " Nay ông có nghe chăng ?"

Ông A Nan và đại chúng đều đáp : " Dạ có nghe ."

Phật lại hỏi ông A Nan : " Thế nào là ông có nghe , thế nào là ông không nghe ?"

Ông A Nan và đại chúng đều bạch Phật rằng : " Tiếng chuông nếu đánh lên thì được nghe , âm vang hết rồi thì là không nghe ."

Ðức Như Lai lại bảo La Hầu La đánh một tiếng chuông nữa và hỏi ông A Nan rằng : " Theo ông nay có tiếng chăng ?"

Ông A Nan và đại chúng đều đáp : " Dạ có tiếng ."

Giây lâu tiếng dứt , Phật lại hỏi : " Theo ông nay có tiếng chăng ?"

Ông A Nan và đại chúng đều đáp : " Dạ không tiếng ."

Lát sau La Hầu La lại đánh một tiếng chuông . Phật lại hỏi ông A Nan : " Nay đối với ông có tiếng chăng ?"

Ông A Nan và đại chúng đều đáp : " Dạ có tiếng ."

Phật hỏi ông A Nan : " Thế nào mà ông gọi là có tiếng và thế nào là không tiếng ?"

Ông A Nan và đại chúng đều đáp rằng : " Tiếng chuông đánh lên thì gọi là có tiếng , lâu hết âm vang thì gọi là không tiếng ."

Phật bảo ông A Nan và đại chúng : " Hôm nay các ông sao nói trái ngược lộn xộn như vậy ?"

Ông A Nan và đại chúng đều bạch Phật : " Sao Thế Tôn bảo chúng con nói trái ngược lộn xộn ?"

Phật bảo : " Ông lẫn lộn cái nghe với cái tiếng , sao không bảo là trái ngược lộn xộn ? A Nan , nếu tiếng hết không còn âm thanh mà bảo là không nghe , thì tánh nghe đã diệt giống như cây khô , khi tiếng chuông lại đánh lên làm sao ông lại biết có tiếng được ? Biết có biết không là do thanh trần hoặc không hoặc có , chứ tánh nghe kia há lại vì ông mà thành có thành không ? Nếu thật tánh nghe nói là không có thì ai biết là không nghe ?

Thế nên A Nan , tiếng trong cái nghe tự có sanh diệt , chẳng phải vì ông nghe tiếng sanh tiếng diệt mà khiến cho tánh nghe của ông thành có hay là không . Ông còn điên đảo lầm cho cái tiếng làm cái nghe , thì đâu có lạ gì mà không mê muội cho cái thường làm cái đoạn .

Bởi chúng sanh từ vô thủy đến nay theo các thứ sắc , thanh trần rong ruổi với vọng niệm mà lưu chuyển , chưa từng khai ngộ Bản Tánh Thanh Tịnh Diệu Thường , không biết đến cái thường mà chỉ theo các thứ sanh diệt , do đó mà đời đời bị tạp nhiễm phải lưu chuyển .

( Kinh Thủ Lăng Nghiêm )

                                                                      ]

Trở lại vấn đề con cóc , con cóc nhẩy vào ao hay con cóc trong hang nhẩy ra cũng chỉ là trần cảnh , trần cảnh đó chợt hiện ra trước mắt cũng là dịp để ta cảm nhận được tính thấy biết của mình, tính thấy biết ấy luôn luôn thường hằng , không thay đổi, không sanh diệt . Và sự thấy biết của giác quan cũng chỉ là diệu dụng của một Tự Tánh bao la không lặng tỏa ra . Biết được Tự Tánh ấy là đã thấy được Bộ Mặt Bản Lai của mình , bộ mặt bản lai vốn không có hình tướng , không có tên tuổi, không sanh không diệt , không được không mất , nhưng luôn luôn thường trú và còn được gọi với nhiều tên khác như là Chân Tâm , Phật tánh v.v.. Biết buông xả mọi ý niệm, kể cả ý niệm trừ vọng , cầu chân , mà chỉ an trú trong sự thanh thản tự nhiên , như nước lắng đọng trong suốt , hay như bầu trời không một gợn mây , Tự Tánh không lặng ấy sẽ tự hiển lộ , trong sáng và tròn đầy vô tận như ánh trăng rằm vằng vặc . Còn nếu còn ý niệm " năng " và " sở " của chủ thể và đối tượng , của cái ta và ngoài ta, thì vẫn ở trong vòng đối đãi phân biệt , và còn chưa thể cảm nhận được cái tự tánh bao la không biên giới trong ngoài vẫn thường hiện tiền bên ta như hình với bóng . Nếu lấy tâm đi tìm tâm , có khác nào đang cười trâu mà đi tìm trâu , bao giờ mới thấy được . Nói một cách khác , " buông tất cả để được tất cả ", khi biết buông tâm rồi sẽ thấy tâm , buông hết mọi ý niệm phân biệt , mọi tri kiến sẵn có để trở về với sự không lặng thênh thang tự nhiên , thì mới hiểu được câu nói của Lục Tổ Huệ Năng khi được Tổ Hoằng Nhẫn khai ngộ : " Ðâu ngờ tánh mình vẫn thanh tịnh xưa nay !"

Chúng ta hãy ngộ nhập bài kệ bất hủ của Tổ Huyền Giác trong Chứng Ðạo Ca :

Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân
Bất trừ vọng tưởng bất cầu chân
Vô minh thật tánh tức Phật tánh
Huyễn hóa không thân tức Pháp thân

dịch :

Hết học , chẳng làm , nhàn đạo nhân
Không trừ vọng tưởng , chẳng cầu chân
Thật tánh vô mình là Phật tánh
Thật tánh vô mình là Phật tánh

Hay như thiền sư Hương Hải mà ngâm rằng :

Liễu liễu thời vô sở liễu
Huyền huyền xứ diệc tu ha
Ân cần vị xướng huyền trung khúc
Không lý thiềm quang yết đắc ma ?

dịch :

Liễu , liễu , khi liễu không chỗ liễu
Huyền , huyền , chỗ huyền cũng phải buông
Ân cần hát khúc trong huyền ấy
Ánh trăng giữa trời nắm được không ?

Và cảm nhận được bản chất tánh Không của chân tâm , vọng tâm :

Suy chân chân vô tướng
Cùng vọng vọng vô hình
Phản quán suy cùng tâm
Tri tâm diệc giả danh

dịch :

Xét chân , chân không tướng
Tìm vọng , vọng không hình
Quán lại tâm tìm xét
Biết tâm cũng giả danh

( Trích trong Hương Hải Thiền Sư Ngữ Lục )

                                                                      ]

Trong những câu chuyện được truyền tụng lại , ta thường thấy những vị thiền sư ngộ đạo sống thật thoải mái, an nhiên tự tại , không vướng mắc nơi bất cứ cái gì , như người đã thấy mặt trăng nên không nhìn đến ngón tay chỉ mặt trăng nữa , đã qua đến bờ nên không còn phải ở trên bè qua sông ... Tất cả mọi pháp môn tu tập đều chỉ là phương tiện , khi đã đạt tới cứu cánh rồi thì không còn chấp vào phương tiện nữa . Ðó là bởi vì họ đã đạt được sự vô ngã trong trí huệ Bát Nhã thấu suốt được tánh Không của vạn pháp . Tánh Không ấy không phải là cái Không đối đãi của có và không , nhưng là cái Chân Không Diệu Hữu , tuy không mà không phải không , bất động mà động , bởi từ trong bản chất không lặng ấy mà những dấy khởi phân biệt vọng lên , nên từ cái không sinh diệt mà khởi cái sinh diệt , từ cái vô niệm mà khởi lên ý niệm trùng trùng , từ chỗ không tâm mà lập ra có tâm , nhưng bản chất của chân tâm và vọng tâm ấy là một không hai, như bản chất của sóng và nước là một . Do biết được bản chất của mọi hiện tượng nên họ sống trong dòng đời mà không bị cuốn trôi theo dòng đời , vượt thắng mọi hoàn cảnh , xem sanh tử như lật bàn tay . Còn chúng ta bị mây mù vô minh che lấp nên như người ở mê hồn trận không biết lối ra , lúc nào cũng quanh quẩn trong cái sướng khổ trước mắt của thân và tâm mình .

                                                                      ]

Ðể kết thúc chuyện cóc nhái , chúng ta có thêm một chuyện ếch ngồi đáy giếng của Tây tạng do thiền sư Patrul Rinpoche kể lại .

Con ếch ngồi đáy giếng không biết gì hơn ngoài cái đáy giếng . Một hôm có một con ếch từ đại dương đến thăm nó . Ếch ngồi đáy giếng hỏi :

- Mày từ đâu đến ?

- Từ đại dương rộng lớn bao lạ Con ếch kia trả lời

- Lớn bằng chừng nào ?

- Lớn vĩ đại

- Có bằng một phần tư cái giếng của tao không ?

- Lớn hơn .

- Lớn hơn ? Mày nói có lớn bằng một nửa không ?

- Không, lớn hơn nữa

- Thế, có bằng cái giếng này không ?

- Không thể so sánh được .

- Không thể nào được! Tao phải đi xem tận mắt mới được .

Hai con ếch cùng đi với nhau . Khi ếch ngồi đáy giếng thấy được đại dương rộng lớn , nó quá kinh ngạc đến nỗi đầu nó nổ tung ra .

Câu chuyện này có lẽ muốn ám chỉ chúng ta như những con ếch ngồi đáy giếng , chỉ quanh quẩn sống trong khuôn khổ chật hẹp do chính mình tạo ra mà tưởng rằng đó là toàn thể vũ trụ , đâu ngờ rằng ngoài những hình tướng hữu vi trước mắt còn có thực tại của tâm rộng lớn vô biên không thể nghĩ bàn , mà chúng ta không hề biết đến .

Có lẽ con ếch ngồi đáy giếng kia , nếu biết tận dụng những lúc ngồi đáy giếng mà xoay lại phản chiếu chính mình , sẽ không nổ tung ra mà còn hỏi lại con ếch đại dương được rằng :

- Mày biết biển cả rộng lớn , vũ trụ bao la , nhưng mày có biết chính mình là ai không?

Ngọc Bảo

Offline

 

2011-08-10 14:16:42

AdBot
Advertisements

Adverts

Board footer

Powered by FluxBB
Hosted by PunBB-Hosting