TRANG THƠ HAIKU TIẾNG VIỆT

quẹt ngang ngày tháng

You are not logged in.

Mến chào bạn đến cùng trang thơ haiku Việt

bashoissashikibuson

Adverts

  • Index
  •  » Bài Viết
  •  » Masaoka Shiki và haiku cận đại - Nguyễn Vũ Quỳnh Như

#1 2011-07-21 21:45:06

Nimda
ngắm trăng
Registered: 2006-05-29
Posts: 237

Masaoka Shiki và haiku cận đại - Nguyễn Vũ Quỳnh Như

LỜI MỞ ĐẦU

Masaoka Shiki (1867 - 1902) là một trong bốn đại thụ thơ haiku của Nhật Bản trước thời hiện đại: Matsuo Basho, Yosa Buson, Kobayashi Issa, Masaoka Shiki. Đồng thời ông cũng được xem là một trong những nhà tiên phong trong công cuộc cách tân thơ haiku thời kỳ cận đại. Nếu Matsuo Basho được cho là nhà thơ haikai tiêu biểu của thời kỳ trung đại, thì Masaoka Shiki tiêu biểu của haiku thời kỳ cận đại. Thơ haiku của Shiki được cách tân không chỉ về mặt hình thức cấu trúc thơ mà cả về nội dung và quan trọng hơn hết là hầu hết thơ haiku tân thời đều được khởi nguồn từ Shiki.

Năm 1868, chế độ Tokugawa của thời kỳ Edo trước đó bị xóa bỏ và mở ra một kỷ nguyên mới của lịch sử Nhật Bản – kỷ nguyên Minh Trị Duy Tân (1868 – 1912). Từ đây nước Nhật mở cửa giao lưu quốc tế sau bao nhiêu năm bị giam hãm bởi chính sách bế quan tỏa cảng dưới chế độ Mạc phủ. Sự mở cửa đó đã giúp Nhật Bản tiếp thu tri thức khoa học kỹ thuật từ thế giới bên ngoài, đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong một giai đoạn có thể nói là huy hoàng nhất trong lịch sử Nhật Bản. Dưới sự trị vì của Hoàng Đế Minh Trị, chỉ trong vài thập kỷ, Nhật Bản đã có thể đạt được điều mà phương Tây phải mất hàng thế kỷ mới tạo dựng được. Công cuộc phục hưng thời Minh Trị giống như một vụ nổ chất chứa năng lượng và sức mạnh phá tung một con đập kìm hãm nó hàng thế kỷ.

Trong thời gian ngắn khoảng 45 năm mở cửa, văn học Nhật Bản cũng đổi mới. Làn sóng văn học phương Tây tràn vào Nhật Bản với khối lượng lớn các thể loại kịch, truyện ngắn, tiểu thuyết được dịch sang tiếng Nhật và xuất bản tại Nhật đã tiếp thêm sinh lực cho quá trình cách tân văn học Nhật Bản. Tầm nhìn, trào lưu và khuynh hướng sáng tác của Nhật Bản thay đổi theo phong cách Tây phương như chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa duy lý, chủ nghĩa lãng mạn, phong cách tả thực. Trong trào lưu sôi nổi đó, văn học truyền thống của Nhật Bản vốn được đúc kết từ sự ảnh hưởng kinh điển của Trung Hoa cổ và các giá trị truyền thống vĩnh hằng của dân tộc đã kịp hòa nhịp cùng tính đa dạng của tư tưởng phương Tây để tiếp tục cải tiến và phát triển mạnh mẽ. Và thơ haiku cũng không nằm ngoài trào lưu đó. Dưới sự vận động và dẫn dắt của nhà thơ Masaoka Shiki – người có công đưa thể thơ hokku trước đó trở thành thể thơ độc lập với tên gọi haiku cho đến ngày nay – thể thơ haiku đã có bước chuyển mình rõ rệt.

1.           HAIKU THỜI MEIJI/ MINH TRỊ

Phần lớn thế kỷ 19 là thời kỳ đen tối của haiku vì nó bị xem là văn chương hạng hai. Từ cuối thời kỳ Tokugawa, haiku trở thành loại hình giải trí của tầng lớp thương nhân trong khi tanka vẫn còn được lưu giữ vị trí trong giới quý tộc. Hai thể thơ này được các tầng lớp khác nhau nuôi dưỡng và phát triển, chính điều này đã làm lu mờ bản chất tự nhiên của thơ ca dẫn đến sự khác biệt trong cách thể hiện, chủ đề, cấu trúc. Trong nửa đầu thời Minh Trị, tanka và haiku được cho là bảo thủ và rất ít chịu sự ảnh hưởng từ bên ngoài. Song 25 năm tiếp theo, cuộc vận động cách tân chuẩn bị từ trước đó của các nhà thơ Kakuta Chikurei, Ozaki Kozo, Ito Shou và Masaoka Shiki đã thổi luồng gió mới cho haiku cận đại - “haiku mới” (shin-haiku). Vì thế văn đàn thời kỳ Meiji được chia thành hai giai đoạn với cột mốc chuyển giao vào năm Meiji 25 (1892) đánh dấu hai thời kỳ tiền Meiji – cứng nhắc và trên đà suy thoái, và hậu Meiji – sôi động cách tân tìm lối đi mới.

1.1.        Thời kỳ đầu Meiji – haiku trên đà suy thoái XE "suy thoai" \r "suy_thoai" \i  XE "Thời kỳ đầu Meiji – haiku trên đà suy thoái" \r "suy_thoai" \i

Thi đàn haiku trong khoảng 25 năm đầu thời kỳ Meiji (1868 – 1892) chẳng gì khác hơn là chỉ tiếp bước những quán tính đã có sẵn. Nói như vậy không có nghĩa thời kỳ đầu Meiji thi đàn haiku không có bản sắc riêng. Ngược lại nó rất sôi động là khác. Nhiều tờ báo dành cho thi đàn lần lượt ra đời: năm Meiji 01 (1868) xuất hiện tờ báo dành riêng cho haiku: Haikai shimbun; một năm sau,  1869 xuất bản Haikai shinbun shi, năm Meiji 13 (1880) tạp chí Minh luận haikai (haikai meiron) một tháng 2 số và còn rất nhiều tờ báo, tuyển tập thơ văn  khác được xuất bản.

Vào cuối những năm 1880, các thể thơ truyền thống Nhật Bản bị cho là giải trí phù phiếm chỉ để phục vụ cho những con người đầy phức tạp của xã hội hiện đại. Đặc trưng xã hội phổ biến của thời kỳ này là mang tính cộng đồng. Thơ ca cũng vậy. Các trường phái thơ thường tập hợp đồng môn và môn đệ tổ chức viết thơ và bình thơ dưới sự hướng dẫn của trưởng môn, người nào đạt điểm cao nhất sẽ được thưởng, cho xuất bản hoặc dâng cúng đền. Điển hình của hình thức này là lệ tsukinami (mỗi tháng họp bình thơ một lần). Tập lệ này đã có từ cuối thời hoàng kim của waka tức mọi người tập hợp vào một ngày đã định trước kể cả thơ renka, và được gọi tsukinami của thơ hokku, tsukinami của renka. Cũng chính nhờ họp thơ tsukinami này, hokku đã được tách độc lập khỏi haikai. Tuy nhiên, các tác phẩm được sáng tác, tuyển tập, in ấn theo lệ tsukinami không vì động cơ văn học mà chỉ vì chạy theo sở thích của trưởng môn, cách bình thơ cũng dần trở thành rập khuôn, sáo rỗng, mang tính chủ quan cá nhân. Do đó khi bước vào thời kỳ Meiji, văn chương bị quần chúng chế nhạo, làm mất đi hương vị của nó và rơi vào suy thoái. Thời gian này haiku phổ biến như là một trò tiêu khiển, các văn nghệ sĩ kịch nghệ như kabuki…nổi tiếng cũng tham gia sáng tác nhưng tiếc rằng chất lượng thơ rất thấp. Những bài thơ Shiki viết trong khoảng thời gian 1892 – 1895 tức với phong cách được nuôi dưỡng từ những năm đầu Meiji - là lúc Shiki chẳng biết gì khác ngoài phong cách theo lệ tsukinami [5, tr.48].

木をつみて

ki o tsumite

Cây chất chồng

夜の明やすき

yono akeyasuki

ánh hừng đông

小窓かな

komado kana

len vào ô cửa nhỏ.

Akeyasuki là quý ngữ chỉ mùa hè đến sớm. Đây là bài thơ thời kỳ đầu của Shiki kể từ năm 1885 và là một trong các bài thơ theo phong cách cũ nhưng sau đó chính ông lại khinh miệt, đả phá nó vì yêu cầu người đọc phải suy nghĩ, liên tưởng một cách có logic (cây che lấp - ánh sáng - len vào cửa sổ nhỏ) hơn là bằng nguồn xúc cảm.

10 năm rồi 20 năm thời kỳ Meiji trôi qua khi haiku càng ngày càng rơi vào suy thoái nặng nề. Với quan niệm nghệ thuật mới: shasei (tả sinh/ tả thực), Shiki lên tiếng phê bình, phủ định kiểu họp thơ tsukinami-haiku và cho đây là bước ngoặt thích hợp cho cách tân haiku. Shiki đã phê phán tsukinami - haiku như sau:

“Tsukinami haiku không đánh vào tình cảm, mà đánh vào học thức, là bước tìm kiếm cái mới của giới tân kỳ ưa thích ý tứ sáo mòn. Tsukinami haiku thích sự nới lỏng ngôn từ và ghét sự chặt chẽ . Hoặc tsukinami - haiku chỉ quen sử dụng vốn ngôn từ trong phạm vi hẹp đã từng quen thuộc. Tsukinami vinh hiển sự phiêu bạt và hệ thống của haikai” [14, tr.274].

1.2.        Từ năm Meiji 25 (1892) – haiku chuyển mình cách tân XE "cach tan" \r "cach_tan"

Do ảnh hưởng văn hóa phương Tây, thời kỳ Meiji đã mở ra tầm nhìn mới của haiku. Từ năm Meiji 25 (1892) đến năm 30 (1897) các nhóm Quyết Xã trong đó có Kessha-ken-yusha [1] (Kenyuusha, Nghiễn Hữu Xã) - một văn đoàn với văn phong cổ điển kết hợp lại từ năm 1885 do ba nhà văn đứng đầu là Ozaki Koyo (1867 – 1903), Yamada Bimyo (1868 – 1910) và Ishibashi Shian (1867 – 1927) đã kêu gọi sáng tác, nghiên cứu, phân loại các loại haiku cổ điển, từ đó haiku cách tân thời Meiji (Meiji-Shinku) đã chính thức ra đời, đóng góp đáng kể cho sự phát triển của thơ ca nói chung [17, tr.30]. Sau đó tờ báo Aki no koe (Tiếng thu) được xuất bản, tiếp bước cho công cuộc cách tân haiku. Đi theo phong trào đó, Masaoka Shiki cùng các đồng môn là Kawahigashi Hekigodo (1873-1937), Takahama Kyoshi (1874 - 1959), Naito Meisetsu (1847 - 1926) - tự gọi là phái Nhật Bản (Nihon ha) đã lên tiếng vận động cho công cuộc cách tân haiku để nâng cao vị trí văn học của haiku. Nhất là từ khi Shiki gia nhập tờ báo Nippon (Nhật Bản) vào tháng 12 năm 1892, và năm sau cho ra mắt tác phẩm Dassai Shyo-oku Haiwa (Thát tế thư ốc hài thoại - Bàn về cách viết haiku bằng tìm tòi qua sách vở) đăng trên tờ báo bằng cách chọn lựa các tuyển tập haiku và cổ vũ cho haiku mới (shin-haiku) đã gây ảnh hưởng lớn trong xã hội, được sự hưởng ứng của giới tri thức trẻ từ sinh viên đến quân nhân, họa sĩ, thi nhân. Năm 1894 tờ báo Nippon bị tạm thời đóng cửa do vai trò dẫn dắt quá lớn của nó. Thay vào đó, tờ báo khác với tên gọi Sho-Nippon (Tiểu Nhật Bản) được ấn bản và Shiki làm tổng biên tập. Sho-Nippon đã đăng tải nhiều bài phê bình của Shiki chỉ trích sự tôn kính vô dụng các luật lệ sáng tác thơ của những nhà thơ đi trước và ao ước một cái gì mới mẻ, đặc biệt đã cho đăng hơn 10 ngàn bài thơ haiku và hơn 20 ngàn bài tanka của ông. Vào năm Meiji 28 (1895) Shiki viết:

柿食えば

kaki kueba

Vừa mới ăn hồng

鐘が鳴るなり

kane ga naru nari

chuông chùa Pháp Long tự

法隆寺

Horyuji

ngân vang.

Bài thơ được coi là tác phẩm thành công đầu tiên trong quá trình cách tân thơ haiku, được đánh giá là hay nhất và được trích dẫn trong hầu hết các trường phổ thông trung học Nhật Bản.

Tháng 11 năm Meiji 30 (1897), các tuyển tập haiku của nhóm Tân thời haikai (Shin-ha haikai kushu) cùng tuyển tập shin-haiku (haiku mới) ra đời, bao gồm năm ngàn bài thơ của hơn sáu trăm nhà thơ và hầu hết đều là lần đầu tiên xuất hiện trên các cột haiku của tờ Nippon. Năm 1898, nhiều tạp chí haiku lần lượt được ấn hành tại các địa phương như Shizuoka, Akita, Osaka và nhiều nơi khác. Năm Meiji 31 (1898), tuyển tập Tân haiku (Kushu Shin-haiku) gần 400 trang do Masaoka Shiki đồng chủ biên với các đồng môn cũng được đăng đàn. Lời nói đầu của Shiki trong tuyển tập này khá dài nhưng đã nêu lên nội dung quan trọng:

Haiku đã đem lại một sinh mệnh mới vào tâm trí của haijin (nhà thơ haiku)…Haiku thời kỳ Meiji, hơn nữa haiku mới (shin-haiku) thời Meiji đã ra đời từ sau năm Meiji 25. Trong vòng 10 năm sự thay đổi trưởng thành của haiku thật sự kinh ngạc. Sự tồn tại của haiku bắt đầu lên tiếng đòi được thừa nhận không chỉ trong giới văn nhân, mà lan rộng khắp nơi kêu gọi tán thành lẫn bị phản đối …Đây là giá trị nhất của haiku mà những thời trước đó không có được [18, tr.29].

Điều này cho thấy mặc dù tinh thần khai sáng cho cách tân haiku đã được hé lộ từ trước, nhưng chính Shiki là người đã chính thức đưa haiku lên bệ phóng cách tân. Khi quyết định chọn văn chương làm sự nghiệp, Shiki đã chọn haiku vì cho rằng có thể đại diện cho các giá trị của hai thời kỳ: Tokugawa đi trước - suy thoái và Meiji đi sau - hiện đại.



2.                  MASAOKA SHIKI (1867 - 1902) VÀ NGÃ RẼ ĐẾN VỚI CÁCH TÂN HAIKU  XE "Shiki" \r "Shiki"

Shiki tên thật là Masaoka Tsunenori, sinh tại thành phố Matsuyama tỉnh Iyo (nay là tỉnh Ehime). Khởi đầu sự nghiệp của Shiki không chỉ chuyên về thơ haiku mà còn viết phê bình thơ ca để ủng hộ cho nền văn học mới được sản sinh vào thời kỳ Meiji. Ngay cả vào những năm tháng cuối đời, Shiki tập trung vào việc phát triển ngôn ngữ của thơ văn hiện đại Nhật Bản.

Shiki sinh ngày 19 tháng 9 năm 1867, năm cuối cùng của thời kỳ Tokugawa và chỉ một năm trước khi bước vào thời kỳ duy tân Minh Trị. Suốt thời kỳ thơ ấu, chứng kiến sự giao thời và các biến cố của xã hội, Shiki đã lột tả ranh giới giữa thời kỳ tiền hiện đại và hiện đại qua thơ ca. Thơ của Shiki thường nêu lên những nghịch lý, thói đời trớ trêu nhập nhằng của xã hội và bày tỏ sự bình thản trước các mâu thuẫn trong cuộc sống. Từ năm khoảng 11 tuổi - một năm trước khi tốt nghiệp cấp 2, Shiki bắt đầu làm thơ cho đến khi 16 tuổi (năm 1883),  Shiki rời trường làng lên Tokyo. Năm Meiji 25 (1892) là ngã rẽ định mệnh đưa Shiki đến với văn chương. Vì sức khỏe kém, Shiki nghỉ học và dốc sức vào văn chương, viết truyện và tuyển chọn thơ haiku – là bước chuẩn bị cho Haiku Bunrui (phân loại tuyển tập Haiku, 1900). Vào một ngày rời ký túc xá ở Hongo dành cho sinh viên có học bổng, Shiki viết:

Ký túc xá rất yên tĩnh, thích hợp cho việc học, nhưng những gì tôi có thể học được đó là haiku và tiểu thuyết. Mỗi khi có kiểm tra, tôi phải chuẩn bị đến mấy ngày để dẹp hết sách về haiku trên bàn và chỉ để những cuốn vở dành cho bài thi. Khi mở cuốn vở ra, 17 âm tiết đã cuốn hút tôi trước khi đọc nó. Tôi đã thi rớt vào năm 1892 và từ đó rời khỏi nhà trường [5, tr.15].

Về sau Shiki đã viết về quãng thời gian này rằng “Thi cử chẳng có ích gì, chỉ có niềm say mê với thơ ca, chẳng có gì có thể cứu vãn được tôi ngoài nữ thần haiku” [5, tr.16]. Năm Meiji 28 (1895) Shiki thành lập trường Nippon school (trường Nhật Bản) dạy haiku và sau này được thừa nhận có sức mạnh trong thế giới văn học. Do bệnh lao phổi trở nặng, tháng 8 năm 1895, Shiki trở về nhà ở tỉnh Matsuyama. Tại đây, Shiki thuyết giảng haiku cho nhiều người. Các nhóm trẻ hâm mộ haiku (trong đó có Natsume Soseki[2] (1867 - 1916)) đã học cách làm thơ haiku của Shiki với đề tài được chuyển tải từ chính năng lực tự quan sát thiên nhiên. Sau đó, Shiki viết bài Haikai-taiyo (Haikai Đại Yếu) dành cho người bắt đầu học haiku và đăng nhiều kỳ trên báo Nippon cho đến hết tháng 12 năm 1895. Tháng 2 năm Meiji 26 (1893), trong bài Tạp đàm Basho (Zatsudan Basho / Chuyện phiếm Basho) trên báo Nippon, Shiki viết:

  “Haiku trở thành một bộ phận của văn học. Văn học trở thành một bộ phận của mỹ thuật. Kết quả là tiêu chuẩn cái đẹp trở thành tiêu chuẩn của văn học. Tiêu chuẩn của văn học trở thành tiêu chuẩn của haiku. Tóm lại hội họa, điêu khắc, âm nhạc, kịch nghệ, thơ ca, tiểu thuyết, tất cả đều cùng chung một tiêu chuẩn để đánh giá” [13, tr. 258 – 259].

Với tuyên bố này, Shiki cho rằng tên gọi haiku được tách ra từ hokku không phải là “trò chơi” mà haiku được giải phóng để hướng đến thế giới toàn diện. Tên gọi haiku vốn có đã được sử dụng từ thời Edo, nhưng chỉ là câu thơ đi kèm của haikai, và sau đó là của hokku. Có nghĩa là sự chuyển đổi tên gọi từ hokku sang haiku không chỉ đơn thuần là sự chuyển tên. Trọng tâm cách tân haiku của Shiki chính là sự chuyển hướng về chất lượng hoàn toàn mang tính văn học. Shiki còn chỉ trích thơ của Basho nghèo nàn yếu tố thơ ca. Sự khác biệt cơ bản nhất giữa Shiki và Basho khiến Shiki không đánh giá cao Basho vì Shiki mang phong cách hiếu động của một xã hội hiện đại trong khi Basho thiên về sự trầm lắng, thanh bình với các thuyết thẩm mỹ sabi, wabi. Ngược lại, Shiki lại không ngớt lời ca ngợi thơ của thi sĩ - họa sĩ Yosa Buson (1716 – 1783) tao nhã, phong cách tả thực (shasei) rất ấn tượng nặng tính không tưởng. Dù ảnh hưởng phong cách của Buson nhưng cách thể hiện của Shiki “Giống thì giống Buson, nhưng biến hóa hơn so với Buson” [18, tr.30]. Quan điểm này thể hiện tinh thần cách tân thơ haiku của Shiki cũng là một trong các giá trị văn hóa Nhật Bản: cái mới tiếp nối cái cũ từ thời kỳ này sang thời kỳ khác để phát triển chứ không thay đổi hoàn toàn và làm cái cũ mất đi.

Buson:

釣鐘に

tsurigane ni

Trên chuông chùa

止まりて眠る

tomarite nemuru

đậu yên, ngủ

胡蝶かな

kochou kana

một cánh bướm.

Trong khi đó, thơ của Shiki cũng một ngữ cảnh tương tự, lại sinh động đầy sức sống hơn khi con bướm của Buson đang say giấc nồng thì đom đóm nhỏ bé của Shiki lại lấp lánh tỏa sáng.

釣鐘に

tsurigane ni

Trên chuông chùa

止まりて光る

tomarite hikaru

đậu yên, tỏa sáng

蛍かな

hotaru kana

con đom đóm.

Năm Meiji 35 (1902), trong tuyển tập Xuân-Hạ-Thu-Đông -  là tuyển tập các tác phẩm haiku nhằm tiếp nối tuyển tập Shin-haiku (haiku mới), Shiki đã nhắc lại thành công của thơ haiku thời kỳ Buson, đả phá quan niệm ‘Haiku không thích hợp mô tả nhân tình mà chỉ thích hợp miêu tả thiên nhiên’[18, tr.32].

薪をわる

maki wo waru

Chỉ mỗi mình em

いもうと一人

imoto hitori

miệt mài chẻ củi

冬篭り

fuyu gomori   

đầy giỏ mùa đông.

Thật là bài thơ haiku đầy chân tình nhớ về hình ảnh em gái đáng yêu phải tự chẻ củi một mình. Với công việc của một biên tập văn chương, hàng ngày Shiki phải lựa chọn cả hàng ngàn bài thơ haiku để đăng trên tờ nguyệt san Hototogisu (Chim quyên) ra đời vào năm Meiji 30 (1897) sau đó trở thành diễn đàn chủ đạo cho phong trào shin-haiku (haiku mới).

三千の

sanzen no

Nghiền ngẫm

俳句を閲し

haiku wo kemishi

ba ngàn bài haiku

柿二つ

kaki futatsu

ăn hết hai quả hồng.

Shiki còn lên tiếng đả phá thói đạo đức giả và thói nghiện những thể thơ vô nghĩa, nói cách khác ông chống đối những gì thuộc về kinh điển.

説教に

sekkyou ni

Những lời thuyết giáo

汚れた耳を

kegareta mimi wo

nghe chói cả tai

ホトトギス

hototogisu

Tiếng chim quyên.

Cho đến khi bệnh thổ huyết trở nặng và mất vào năm Meiji 35 (ngày 19 tháng 9 năm 1902), trong những năm tháng ngắn ngủi, Shiki đã chủ tâm vào sáng tác haiku, cách tân tanka và mong muốn ngày càng nhiều người tham gia viết haiku nhưng phải là haiku ở trình độ cao về kỹ thuật và phải đạt được cảm xúc đích thực.

五月雨や

gogatsu ame ya

Mưa tháng 5 rơi

棚へとりつく

tana e toritsuku

cùng nỗi ám ảnh

ものの蔓

mono no tsuru

dọc ngang trên giàn.

  Shiki thường cho rằng tháng năm là tháng hay xảy ra những biến cố tồi tệ nhất với mình, nên các bài thơ của ông khi nói về tháng năm thường mang vẻ u buồn. Quang cảnh tiết trời vào mùa mưa, lúc nào cũng ướt sũng, bầu trời u ám xám xịt mây đen của tháng 5 năm Meiji 34 (1901), khiến Shiki ám ảnh đến một điều gì đó – trời mưa buồn hay chính bản thân Shiki đang chống chọi với cơn bệnh. Cũng giống như trong thơ Nguyễn Du “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, Shiki vận cảnh buồn thê thảm đó vào chính bản thân mình. Lá xanh, cây cỏ dại đâm chồi ướt đẫm nước mưa hay hàm nghĩa bóng bảy một niềm hy vọng “sau cơn mưa trời lại sáng”. Đây cũng là một điểm rất riêng của Shiki là thể hiện được cái tôi trong haiku và tanka – điều này khác biệt với các thể thơ truyền thống trước đó chưa làm được: nhận thức kép trong thể hiện giữa miêu tả khách quan và chủ quan.

Shiki mất trước khi đạt được đỉnh cao của độ chín muồi [3, tr.172]. Nhưng trước khi ra đi, ông và các đồng môn đã chiến thắng trong một cuộc chiến chống lại tính giả tạo và đem lại cho haiku một luồng gió mới đầy tươi trẻ. Có thể nói chiến thắng này đến với Shiki quá nhanh. Shiki đã để lại thành tích đáng kể cho sự nghiệp văn chương với Shiki toàn tập 22 quyển (Shiki zenshu). Và hơn hết, tư tưởng cách tân của Shiki được các đồng môn tiếp nối và phát triển trong những năm tiếp theo. Sau khi Shiki mất, hai người bạn và cũng là đồng môn là Takahama Kyoshi và Kawahigashi Hekigodo đã tiếp bước cách tân haiku của Shiki. Hekigodo đào sâu con đường tả thực mà Shiki đã mở lối, truyền bá lý luận vô trung tâm luận (không bắt buộc câu thơ phải có trọng tâm nào). Hekigodo cùng các nhóm của ông là Ogiwara Seisensui chủ trương haiku tự do, không đặt nặng cấu trúc thơ theo kiểu truyền thống 5 – 7 – 5.  Ngược lại, Kyoshi thiên về miêu tả quang cảnh thiên nhiên dù không có quý ngữ nói về mùa mà là về vạn vật xung quanh.



3. MASAOKA SHIKI VÀ THUYẾT TẢ THỰC (TẢ SINH/SHASEI)  XE "shasei" \r "shasei"

Thuật ngữ shasei (tả sinh) do họa sĩ Fusetsu Nakamura (1866 - 1943)  truyền bá vào Nhật Bản vào năm Meji 27 (1894). Với nhiệt huyết mong muốn cách tân để nâng cao giá trị trong nghệ thuật của haiku, Shiki đã áp dụng thuyết tả thực vào phương pháp sáng tác haiku. Tả thực là bắt nắm trực giác đồ vật, còn với haiku đó là sự khám phá cách thể hiện sự thực một cách trực giác lên trên một tờ giấy trắng. Shasei trong hội họa khác hẳn với shasei trong văn chương. Với shasei hội họa, có thể trực giác được nội dung tác giả muốn thể hiện, còn shasei trong văn chương nhất là trong haiku khác hẳn với tính hiện thực của văn đàn phong nhã thời trước đó. Shiki còn chịu ảnh hưởng lý tưởng shajitsu (tả thực) từ trong hội họa ngoài trời Tây phương ‘plein air’ của họa sĩ người Pháp Raphael Collin (1850 – 1916) du nhập vào Nhật Bản đầu thời kỳ Meiji. Vay mượn shajitsu (tả thực), Shiki gắn kết chúng với những gì ông đã tiếp nhận từ nhà nghiên cứu văn học Tsubochi Shoyo (1859 - 1935) - là nhà văn rất thông thuộc văn chương và phê bình văn học Anh quốc. Từ đó, Shiki đã đem phong cách tả sinh “shasei” để bao hàm luôn cả tả thực “shajitsu” – tái sinh những gì như chính chúng đang có [5, tr.54]. Khi thuyết tả thực được du nhập từ phong cách nghệ thuật phương Tây, Shiki cũng như giới tri thức Nhật Bản nghĩ rằng phương Tây làm được mà Nhật Bản không làm sẽ bị lạc hậu. Tư tưởng này ảnh hưởng rất sâu rộng trên nhiều lãnh vực văn hóa nghệ thuật của Nhật Bản. Tiếp nhận yếu tố từ nước ngoài nhưng đều với mục đích tạo bản sắc mới mang nét riêng của Nhật Bản, vượt qua dân tộc để mở ra một thế giới mới phổ biến hơn. Hầu hết thơ haiku mới, hoặc haiku dù được cách tân ở hình thức nào đều được quần chúng đón nhận chính là nhờ dựa trên cơ sở nền tảng này, tức đạt được tính ‘thuận ý thuận tình’ trong công cuộc cách tân.

砂浜に

suna hama ni 

Vết chân dài

足跡長き

ashi ato nagaki

in trên bờ cát

春日かな

haru hi kana

ngày xuân.

Cách tân haiku theo phương pháp luận tả thực (shasei) của Shiki phụ thuộc vào sự cảm nhận của người đọc thông qua cách sử dụng ngôn từ thể hiện của nguời viết – tức lấy tả thực dựa vào quan sát hiện thực của tự nhiên hơn là sự chơi chữ hoặc sự tưởng tượng như haiku trước giờ vẫn làm.

月一輪

tsuki ichi-rin

Một mảnh trăng tròn

星無数空

hoshi mukazu sora     

trên trời đầy sao

緑なり

midori kana

xanh thẳm.



時鳥

hototogisu

Bên cửa ban mai

雲にぬれたる

kumo ni nuretaru

tiếng chim đỗ vũ

朝の窓

asa no mado   

ướt đẫm mây.

Hoặc một bài thơ khác tả thực tính lãng mạn trong nỗi trông chờ tuyệt vọng:

夕月や

yu-zuki ya

Đêm trăng

梅散り掛かる

ume chirikakaru

hoa mơ lả tả

琴の声

koto no koe

tiếng đàn koto.

Lạnh lẽo não nề của mùa đông:

冬川に

Fuyukawa ni

Xác chó

捨てたる犬の

sutetaru inu o

lững lờ trôi

かばねかな

kabane kana   

trên sông mùa đông

Với Shiki, haiku không đơn giản chỉ là bài thơ mang tính tả thực mà cũng chẳng phải chỉ là không tưởng, mà trên quan điểm ‘Phi Không Phi Thực’ vượt qua cả ngưỡng tả thực để chạm đến thực tại của vũ trụ. Ông khuyên những người mới bắt đầu đến với thơ ca nên thường xuyên đi đây đó vào các mùa khác nhau, để khám phá nguồn thi hứng phong phú cho haiku.

稻の花

Ine no hana

Núi Dokan

道灌山の

Dokana yama no

rực rỡ

日和かな

hiyori kana

lúa trổ đòng đòng.

Khi tiết thu hiu hiu bắt đầu thổi dễ tác động vào tính đa cảm của nhân sinh và những gì hiện ra trước mắt đều là haiku, và đó cũng chính là chất liệu để làm nên haiku, như đồng môn Kyoshi đã viết:

秋風や

aki kaze ya

Trong ánh mắt

眼中のもの

ganchu no mono           

gió mùa thu thổi

皆俳句

mina haiku

đều là thi ca.

Ngay cả trong một khu vườn nhỏ trước nhà của Shiki - nơi không đến mười bước chân luôn bị tuyết phủ che lấp hoa và cỏ mỗi khi trời lập đông, vẫn luôn là một đề tài mới mang đậm phong cách tả thực.

いくたびも

Ikutabi mo       

Biết bao lần

雪の深さを

yuki no fukasa o

hỏi đi hỏi lại

尋ねけり

tazunekeri

tuyết dày bao nhiêu!

Vì thế Shiki đã đưa ra các quy định nghiêm ngặt cho thuyết tả thực, là nền tảng cơ bản nhất cho các nhà thơ thực tập:

Bạn không được dừng lại khi bạn đã có một hay hai bài thơ từ một quan điểm thoáng đãng. Kế tiếp bạn phải nhìn xuống ngay dưới chân mình và viết về những gì bạn thấy ở đó – cỏ, hoa đang nở. Chỉ cần viết về mỗi thứ đó thôi, bạn đã có thể có đến 10 hoặc 20 bài thơ mà không cần phải di chuyển đi đâu cả. Hãy lấy tư liệu từ chính những gì đang ở xung quanh bạn – nếu bạn thấy cây bồ công anh, thì hãy viết về bồ công anh. Nếu đó là sương mù thì cứ viết về sương mù. Tư liệu cho văn chương là vô số những gì thuộc về bạn. Ngay cả đôi giày cũ (waraji) cũng có thể trở thành tư liệu cho thơ văn còn hay hơn là viết về đôi giày của phương Tây. Hoặc kimono còn thi vị hơn  là cây dù phương Tây [5, tr.46].

行水の

gyozui no

Ơ kìa chú quạ

女にほれる

onna ni horeru

mải mê ngắm nhìn 

烏かな

karasu kana

cô gái bên giếng tắm.

Bài thơ vừa lột tả phong tục truyền thống của Nhật Bản mỗi khi vào mùa hè tắm bên gàu nước làm bằng gỗ (gyousui) (có thể giới trẻ ngày nay ít ai biết về  phong tục này) xen lẫn yếu tố hiện đại khi nói về người phụ nữ - vốn ít được nhắc đến trong thơ ca vào các thời kỳ trước đó.

  Trong bài viết về mùa mưa vào năm Meiji 34 (năm 1901), bằng cách thể hiện đơn giản nhưng Shiki đã lột tả được vẻ đẹp mưa tháng 5 ở khu nhà ga Ueno.

五月雨や

gogatsu ame ya           

Mưa tháng năm

上野の山も

Ueno no yama mo           

giăng mờ mịt

見あきたり

miakitari

núi đồi Ueno.

Tìm ra con đường tiếp cận với hiện thực, Shiki luôn cho rằng chẳng bao giờ cạn kiệt đề tài thơ ca với vô vàn cảnh vật đang ở xung quanh. Thế là ông tiếp tục viết và viết càng nhiều, chỉ trong một năm 1893 Shiki viết đến hơn 4000 bài thơ haiku -  nhiều nhất trong các năm suốt cuộc đời ông, trong đó có bài:

鶏頭の

keitou no

Cơn mưa cuối Thu

黒きにそそぐ

kuroki ni sosogu

rót màu đen sẫm

時雨かな   

shigure kana 

xuống hoa mào gà.

Tinh tế của bài thơ là sử dụng hai quý ngữ “keitou” (hoa mào gà) và “shigure” nhưng chủ đạo là “shigure” (mưa rào cuối Thu – báo hiệu mùa Đông sắp đến). Trong  haiku, thường tránh miêu tả trực tiếp vì bị cho là ít gây hiệu quả cảm xúc, mà phải mô tả một cách gián tiếp như dùng tuyết để liên tưởng đến màu trắng. Đối với diễn tả màu đen lại càng khó diễn tả hơn. Thế nhưng trong bài thơ trên, Shiki lại rất hiệu quả khi sử dụng sắc màu trực tiếp ‘sẫm một màu đen” – như chính hoa mào gà đang phải hứng chịu một cơn mưa đen xối xả.

Năm 1895, Shiki viết:

春風に

harukaze ni

Trong gió Xuân

尾をひろげたる

o wo hirogetaru

xòe đuôi

孔雀かな

kujaku kana

ơi con công!

Đây quả là một bức tranh tả thực được tô điểm hình ảnh của chú công đang xòe đuôi hay đang múa - một lựa chọn hiển nhiên lột tả vẻ đẹp một cách tinh tế. Hoặc,

春風や

harukaze ya   

Đứng trên đỉnh đồi

闘志いだきて

toushi idakite

tôi thách thức

丘にたつ

oka ni tatsu

gió xuân.

(Đoàn Lê Giang dịch)

Tiếp bước lý thuyết shasei của Shiki, lý tưởng shasei được đồng môn Kyoshi tiếp nhận và chủ trương coi trọng. Kyoshi[3] đã thêm yếu tố khách quan vào shasei, nêu cao khẩu hiệu tả sinh khách quan (kyakan





shasei) - miêu tả chúng như chính chúng.



4. NHỮNG CÁCH TÂN VỀ HÌNH THỨC HAIKU  XE "hinh thuc haiku" \r "hinh_thuc_haiku"

4.1. Cấu trúc 5 – 7 –  5 âm XE "cau truc" \r "cau_truc"

Trong lịch sử phát triển của haiku luôn có sự hoài nghi về các quy ước dường như không thể phá vỡ. Như trở thành thói quen, mỗi khi chấm bút haiku là chợt phải nhớ đến ba quy ước đã được tuân thủ từ lâu đời: cấu trúc cố định giàu âm điệu 5 – 7 – 5 âm tiết, quý ngữ (kigo) và ngắt từ kireji. Mỗi quy ước nắm giữ một vai trò riêng. Cấu trúc cố định 5 – 7 – 5 âm giữ vai trò về hình thức, ngắt từ kire-ji liên quan đến nội dung, còn quý ngữ kigo có vai trò vừa nội dung lẫn hình thức. Nhưng dần dần có nhiều giả thuyết được đưa ra về tính hữu dụng và cần thiết của các quy ước này.

Theo quan điểm cách tân của Shiki, thế giới mới lạ của thời kỳ Minh Trị Duy Tân chẳng có đề tài gì là thích hợp cho thơ ca và chỉ có thể phục vụ cho lý tưởng của “tao nhã tuyệt mỹ” của giới quý tộc samurai với các giá trị trong giới thương gia. Ông hàm ý rằng nếu một khi haiku nằm trong tay của giới thương gia thì sự suy tàn của haiku là điều không thể tránh khỏi. Mặt khác Shiki đến với haiku rất tài tử, không phải là một chuyên gia hay nhà thơ chuyên nghiệp vì thế Shiki chẳng mấy quan tâm đến sự hiện hữu của cấu trúc mang tính quy tắc được dạy dỗ trong nhà trường. Shiki phê phán sự hạn chế trong hạn định số âm từ của haiku, cho rằng sự ngắn gọn của haiku sẽ thoái trào vì sự hạn chế trong kết cấu, dẫn đến hạn hẹp về đề tài và thực tế là bấy giờ haiku đang gần như đi vào con đường cáo chung. Bước vào thời kỳ hiện đại, cấu trúc nguyên thủy đậm tính truyền thống của haiku bắt đầu bị lung lay phá vỡ khi các nhà cách tân lên tiếng mạnh mẽ về chủ trương luật tự do (riyu-ritsu). Phá vỡ quy ước cấu trúc 5 – 7 – 5 âm, không phải đến thời kỳ cận đại mới có, mà ngay cả các nhà thơ đi trước như Basho và một số nhà thơ sau đó cũng đã từng có một số bài haiku bất quy tắc [7, tr.330] như Basho với cấu trúc 5 – 9 – 5 năm 1689:

枯れ枝に

kare eda ni

Trên cành khô

烏のとまりけり

karasu no tomarikeri

quạ đậu

秋の暮れ

aki no kure

chiều tàn thu.

(Đoàn Lê Giang dịch)

Một bài thơ trường âm khác của Basho 7  – 7 – 5 âm:

芭蕉野分して

Basho nowaki shite

Lá chuối tả tơi

盥に雨を

tarai ni ame wo

đêm nghe mưa tí tách

聞く夜かな   

kiku yo kana

xuống chậu sàn không ngơi.       





(Đoàn Lê Giang dịch)

Nhà thơ Takebe Ayatari (1719 – 1774) thời kỳ Edo cũng viết haiku 5 – 7 – 7:

奥山は

okuyama wa

Từ trong núi sâu

山鳩鳴きて

yamabato nakite

chim cu vẫn gáy

花もしづけき

hana mo shizukeki

hoa vẫn nở tươi.

Bài thơ đã lên tiếng phê bình tính vô nghĩa và vô thức của cấu trúc nguyên thủy. Nếu tuân theo quy ước 5 – 7 – 5 vẫn có thể dùng từ hana shizuka để diễn tả hoa âm thầm nở, nhưng Ayatari đã khám phá từ dài hơi hơn hana mo shizukeki để lột tả cảm xúc mạnh hơn “hoa cũng đang đua nở”. Tuy nhiên bất chấp sự nhiệt tình đi tìm cấu trúc mới của Ayatari, tiếc rằng khuynh hướng này sau đó không được phát triển và phổ biến rộng rãi trong quần chúng. 

Từ cuối thời kỳ Meiji cho đến thời kỳ Taisho, làn sóng phản đối và chối từ cấu trúc nguyên thủy của haiku lan rộng vì với hình thức bị giới hạn như thế sẽ không thể lột tả đầy đủ được tính chân thật như thuyết tả sinh – tả thực của Shiki đã đưa ra. Khuynh hướng này đã dẫn đường cho sự ra đời của luật tự do (riyu-ritsu). Shiki với haiku 6 – 8 – 5:

雪の家に

yuki no ie ni

Nằm trên giường bệnh

寢て居ると思ふ           

nete iru to omofu

sao toàn nghĩ đến

ばかりに

bakari ni te

tuyết trên mái nhà.

Với trào lưu đó, haiku dư từ (ji-amari) thời kỳ cận đại được phổ biến rộng rãi trên tờ báo Hototogisu, trở thành xu hướng của thời kỳ này.

夏の月

natsu no getsu

Tháng hè

人語其辺を           

jingo sono hen wo

đâu đó tiếng ai

  行ったり来たり  

ittari kitari

đi đi lại lại.

Bài haiku với cấu trúc dư âm 5 – 8 – 6 âm rất mãnh liệt của Kyoshi nhưng lại khéo léo khi sử dụng từ rất thông thường trong đời sống hàng ngày ittari kitari (đi tới đi lui) nên bài thơ trở nên gần gũi, thân quen và gây ảnh hưởng rất lớn trong quần chúng.  Và 7 – 7 – 5 âm của Mitsuhashi Takajo (1899 - 1972):

この木登らば

kono ki noberaba

Leo lên cây này

鬼女となるべし   

kijo tonaru beshi

tôi sẽ thành thần nữ

夕紅葉

yuumomiji

giữa bạt ngàn lá đỏ chiều nay.
             (Đoàn Lê Giang dịch)

Luận điểm của Shiki một lần nữa gây ra hoang mang cho giới tri thức thời bấy giờ: nếu không chấp nhận thay thế cái mới vào những gì đã được lưu truyền từ thế hệ cha ông, chúng ta không thể bắt kịp phương Tây.

4.2. Kigo (quý ngữ) XE "kigo" \r "kigo"

Người Nhật rất nhạy cảm với bốn mùa, có cảm quan tinh tế về thời tiết nhất là sự thay đổi của thiên nhiên. Kigo (quý ngữ) là ngôn từ để cảm nhận thời gian trong haiku. Có thể nói kigo là quà tặng của thiên nhiên dành cho haiku. Chính nhờ bề dày lịch sử của kigo đã nâng cao tính văn học của haiku. Nếu haiku diễn tả trung thành về mùa cũng có nghĩa diễn tả sự trung thành với thiên nhiên, quý trọng thiên nhiên của người Nhật. Vì thế khi dùng haiku phải hết sức thận trọng. Kigo là biểu tượng về mùa trong năm như xuân, hạ, thu, đông…Nói cách khác kigo là cánh cửa mở ra đưa haiku đến với thiên nhiên. Thế nhưng Shiki – người không mệt mỏi với công cuộc cách tân haiku và tanka, người đã có công đưa hokku độc lập với haikai và trở thành tên gọi haiku – lại không có quan niệm gọi là kigo. Thay vào đó, với Kishi là kidai-me – tức đề tài về mùa (chứ không phải từ chỉ mùa) [14, tr.18].

年玉を

otoshidama wo

Tiền mừng tuổi

並べて置くや

narabete oku ya

đã sắp sẵn

枕元     

makura moto           

dưới gối đầu.

Otoshidama – tiền lì xì được Shiki sử dụng cho biểu tượng của năm mới đang đến. Thậm chí Shiki còn cho rằng quý ngữ kigo không chỉ về mùa mà là sự giao hòa giữa con người với thiên nhiên và mang đậm tính nhân văn:

暑くるし

atsukurushi

Nóng bức vô cùng

乱れ心や       

midare gokoro ya

tâm thần bần loạn

雷をきく

rai o kiku

tiếng sấm rền vang

Âu cũng là quan điểm tả thực – tả sinh mà Shiki đã không ngừng đeo đuổi. Chủ trương này được đồng môn Kyoshi phát huy mạnh mẽ với khái niệm “quý ngữ mới” (shin-kigo) để phù hợp với sự thay đổi của xã hội. Kyoshi cho rằng “Cái quan trọng đối với quý ngữ mới (shin-kigo) là sản sinh ra câu thơ bất hủ, vượt trội” [14,tr.131]. Chủ đề các bài thơ của Kyoshi được đăng trên tờ báo hototogisu, kết tinh nét đẹp hội họa tranh “Hoa Điểu Phong Thư” (Hoa Điểu là thiên nhiên, Phong Thư là tình cảm của người viết) hầu hết về sông và thác, biển và bầu trời…với nhiều sắc thái khác nhau của thiên nhiên mà con người đang sinh sống trong đó.

遠山に

toyama ni

Ngọn núi xa xa

日のあたりたる   

hi no atari taru

một ngày đẹp trời

枯野哉

karano kana

cánh đồng khô.



流れ行く

nagare yuku

Một lá cải xanh

大根の葉の   

daikon no ha no

theo dòng nước

早さかな

hayasa kana

trôi nhanh.

(Đoàn Lê Giang dịch)

  Còn Hekigodo lại đeo đuổi trào lưu haiku mới (shin-haiku) khi cho rằng một bài thơ haiku – dù ngắn hay chỉ với một chủ đề cũng vẫn có thể chan chứa nhiều đối tượng, sự đối nghịch, tương phản của nhiều mối tương quan, sở thích.

大木の

taiboku no

Giữa cánh đồng khô

雲にそびゆる

kumo ni sobiyuru   

cây cổ thụ

枯野哉

kare no kana

sừng sững vươn mây.



春寒し

mizusamu shi

Mùa xuân giá rét

水田の上の

mizuta no ue no

mây mù che phủ

根なし雲

kon nashi gumo

cánh đồng.



撫子や

nadeshiko ya           

Hừng đông trên biển

海の夜明けの

umi no yoake no

hoa cẩm chướng

草の原

kusa no hara           

đồng cỏ.

Bên cạnh đó để phù hợp với xã hội hiện đại, những thuật ngữ nói về kigo không còn hạn hẹp bằng các thuật ngữ nói về mùa mà cũng có thể các từ về vạn vật xung quanh, về xã hội mới thậm chí là từ ngoại lai được viết bằng tiếng Nhật katakana[4] cũng được đem vào sử dụng. Nếu trong thời kỳ cổ đại, Nhật Bản du nhập tiếng Trung Quốc thì đến thời kỳ này, tiếng Anh được du nhập thay thế chỗ đứng của tiếng Trung Quốc.

川を見る

kawa wo miru

Rơi từ tay người

バナナの皮は       

banana no kawa wa   

vỏ chuối

手より落ち

te yori ochi

nhìn sông.



セルを着て

seru wo kite

Mùa giảm giá

夫婦離れて

hufu hanarete

vợ xa cách chồng

椅子に在り

Kyoshi ni ari

như Kyoshi đã từng.



ラムネの栓

ramune no sen

Nút chai

天井をついて

tenjou wo tsuite

tung bắn lên trần

ホトトギス

hototogisu

chim đỗ vũ.



子供がちに

kodomo gachi ni

Đám trẻ nhỏ

クリスマスの人

kurisumasu no

vây quanh

集ひけり

atsuhikeri

Ông già Noel.



贈り物の

okurimono no

Vô số phần quà

数を尽くして

kazu wo tsukushite       

dành tặng

クリスマス

kurisumasu

cho đêm Noel.

   Sale, Christmas, chai nước có ga (ramune) là những thuật ngữ ngoại lai được du nhập vào Nhật Bản từ thời kỳ hiện đại thể hiện sự giao thoa giữa con người và xã hội. Còn vô quí (không mùa) hoặc có kigo (quý ngữ) đi nữa thì cũng là sự giao thoa giữa thiên nhiên và con người ở trong đó.

Bước vào thời kỳ hiện đại, chính nhờ kinh nghiệm của quá trình tìm tòi để đi đến “haiku vô mùa” (muki-haiku) mà quy ước về quý ngữ (kigo) của haiku phát triển tiến bộ hơn, nhận thức về tính hữu ích của kigo trở nên sâu sắc hơn với các chủ trương tiếp theo về quý ngữ (kigo) của thời kỳ Taisho sau đó: phải loại bỏ kigo, kigo có hay không có cũng được, có sử dụng kigo đi nữa cảm thức về mùa cũng không còn được tin cậy.

LỜI KẾT XE "loi ket" \r "loi_ket"

Thành quả của Shiki không phải chỉ nhờ vào những áng thơ haiku bất hủ, mà chính nhờ sự vận động cách tân và quá trình tập hợp haiku đã đưa haiku đi vào quần chúng, trở thành của quần chúng chứ không còn là của giới thượng lưu. Thuật ngữ haiku do quần chúng sáng tác ngày đó nay đã trở thành một thể loại của văn học và phổ biến rộng rãi. Đó chính là thành công của haiku thời kỳ cận đại với công sức không mệt mỏi của Shiki. Đóng góp của Shiki vào con đường phát triển thơ văn là nhằm khẳng định vai trò tiềm tàng của haiku và tanka để hai thể thơ này được ngang tầm về các thể loại khác như tiểu thuyết, kịch nghệ…. Cách tân haiku của Shiki còn thể hiện lòng yêu nước, muốn lưu giữ lại những gì tốt đẹp của bản sắc văn hóa Nhật Bản, và đôi khi ông cũng tự cảm thấy mâu thuẫn với chính mình khi một mặt đối kháng với yếu tố nước ngoài, mặt khác lại tích cực thu nhận văn hóa phương Tây và coi đó là lầm đường lạc lối [3, tr.166]. Shiki đã thể hiện tình yêu quê hương, đất nước, con người, văn hóa, lịch sử, tập tục, truyền thống Nhật Bản xuyên suốt trong các tác phẩm của ông. Những bài thơ về Nhật Bản hầu như là những áng thơ hay nhất của Shiki thể hiện xúc cảm mãnh liệt. Xin giới thiệu ba bài thơ cuối cùng trước khi Shiki mất chan chứa tình yêu quê hương lẫn tình người:

鶏なくや 

torinaku ya

Dưới chân núi nhỏ Fuji

  小富士の麓 

kofuji no fumoto

tiếng gà gáy

桃の花

momo no hana

và cánh hoa đào.       



故郷は

furusato wa

Ở quê nhà

いとこの多し

itoko no ooshi

còn nhiều anh em họ

桃の花

momo no hana

và cả hoa đào.         



松の根に 

matsu no ne ni 

Dưới gốc cây thông

薄紫の

usumurasaki no 

tim tím

菫かな

sumire kana

một khóm hoa cần.

Trong thơ Shiki có thể tìm thấy sự kết hợp rất tinh tế giữa hai yếu tố trái ngược nhau như hiện thực và tưởng tượng, thế giới khách quan và chủ quan. Ngay cả đề tài của bài thơ cũng thể hiện sự tồn tại song song điển hình là giữa sự sống và cái chết thông qua nỗi ám ảnh bệnh tật của chính ông. Khả năng cân bằng giữa các yếu tố đối nghịch hai trong một là một đặc trưng “nhận thức kép” hay sự chồng xếp lên nhau giữa hai trạng thái đối nghịch: sự cùng tồn giữa cái trước và cái đến sau, giữa yếu tố ngoại lai và tính dân tộc truyền thống để đưa haiku thoát khỏi suy vong, tìm đường phát triển phù hợp với sự phát triển không ngừng của thời đại. Yếu tố đến sau du nhập từ bên ngoài vẫn không làm những gì hiện hữu mất đi mà ngược lại luôn cùng tồn để bổ khuyết cho nhau. Đây là đặc tính văn hóa rất Nhật Bản “Kỹ thuật phương Tây linh hồn Nhật Bản”. Điều đó thể hiện Shiki lĩnh hội được hàng loạt các yếu tố trong cuộc sống với tính hai mặt của nó. Chính nhờ sự kếp hợp nhuần nhuyễn các yếu tố đối nghịch này đã đưa thơ haiku thời kỳ cận đại của Shiki gần gũi với cuộc sống, với người đọc và đây cũng là phong cách sắc thái nổi bật của Shiki.

TÀI LIỆU THAM KHẢO XE "tham khao" \r "tham_khao"



A. Tiếng Việt

1.           Nhật Chiêu (2003), Văn học Nhật Bản – Từ khởi thủy đến 1868, Giáo dục.

2.           Nhật Chiêu (2007),  3000 thế giới thơm, Văn nghệ.

B. Tiếng Anh

3.           Harold G. Henderson (1958), An Introduction to HAIKU – An anthogoly of poems and poets from Basho to Shiki, A Doubleday Anchor Books, United States of America.

4.           Kenneth Yasuda (1982), Japanese Haiku: Its Essential Nature, History, and Possibilities in English, With Selected Examples, Charles E. Tuttle Company.

5.           Masaoka Shiki (2002), Masaoka Shiki: His Life and Works, Boston.

6.           Miura Yuzuru (1991), Classic Haiku a master’s selection, Tuttle Publishing, Singapore.

7.           R.H. Blyth (1981), Haiku Volume 1 – Eastern Culture, The Hokuseido Press Tokyo, Japan.

8.           William J. Higginson (2008), The Haiku handbook – How to write, share, and Teach Haiku, Kodansha Intl.com, Japan.

C. Tiếng Nhật

9.           Donald Keene - Kanaseki Hisao (1999), 日本人の美意識, Chuokoron Shinsha Inc, Japan

10.       Ichiko Teiji (1978), 日本文学全史近世, Gakutou Sha, Japan.

11.       Kato Shuichi (1999), 日本文学史序説〈上〉, Chikuma Bungaku Bunko, Japan.

12.       Kato Shuichi (1999), 日本文学史序説〈下〉, Chikuma Bungaku Bunko, Japan.

13.       Konishi Jinichi (2002), 発生から現代まで 俳句の世界, Kodansha, Japan.

14.       Matsuda Hiromu (2008), 一番やさしい俳句再入門, Daisan Shoten, Japan.

15.       Nami Shibata (1994), 俳句表現の研究, Daigaku Kyoiku Shuppan, Japan.

16.       Okuno Takeo (1995), 日本文学史 近代から現代へ, Chuokoron Sha, Japan.

17.       Tsukamoto Mizuyo (2006), The Aesthetics of Seasons - 季節の美学 身体・衣服・季節, Seikosha.

18.       Yamaguchi Seizon (2001), 明治秀句<新版>日本秀句5, Shunjusha, Japan.

D. Internet

19.       http://book.geocities.jp/yajimatakehiro2007/251.html

20.       http://en.wikipedia.org/wiki/Masaoka_Shiki

21.       http://ja.wikipedia.org/wiki/%E6%AD%A3% … column-one

22.       http://shiki.toward.co.jp/~kim/masaoka1.html

23.       http://www.asahi-net.or.jp/~cf9b-ako/shiki/shiki.htm

24.       http://www.cc.matsuyama-u.ac.jp/~shiki/ … haiku.html

25.       http://www.erct.com/2-ThoVan/NNT/Haiku-2-1.htm

26.       http://www.geocities.jp/ginyu_haiku/cri … kino_j.doc

27.       http://www.h6.dion.ne.jp/~yukineko/syasei.html





* NCS, Trường ĐH KH XH & NV, ĐHQG TP.HCM

[1]  Nhóm Kessha-ken-yusha có nhiều truyện diễn tả tâm tình phụ nữ trong giới hoa liễu được nhiều độc giả phụ nữ thời bấy giờ yêu thích.

[2] Natsume Soseki và Mori Ogai sau này trở thành nhà văn hiện đại lớn của Nhật Bản, tuy có phong cách viết văn hoàn toàn khác nhau, nhưng cả hai đều chịu nhiều ảnh hưởng rất lớn từ phương Tây.

[3] Nhóm Kyoshi thuộc phái Nhật Bản (Nihon – ha) được giới truyền thống bấy giờ tận dụng và gây ảnh hưởng lớn trong giới văn đoàn với các bài thơ đậm tính tả thực khách quan.

[4]  Tiếng Nhật có 3 hệ chữ: Kanji (chữ Hán – vay mượn tiếng Trung Hoa), hiragana (tiếng Nhật) và katakana (từ ngoại lai du nhập từ nước ngoài)

Offline

 

2011-07-21 21:45:06

AdBot
Advertisements

#2 2011-07-21 21:45:23

Nimda
ngắm trăng
Registered: 2006-05-29
Posts: 237

Re: Masaoka Shiki và haiku cận đại - Nguyễn Vũ Quỳnh Như

Offline

 
  • Index
  •  » Bài Viết
  •  » Masaoka Shiki và haiku cận đại - Nguyễn Vũ Quỳnh Như

Adverts

Board footer

Powered by FluxBB
Hosted by PunBB-Hosting