TRANG THƠ HAIKU TIẾNG VIỆT

quẹt ngang ngày tháng

You are not logged in.

Mến chào bạn đến cùng trang thơ haiku Việt

bashoissashikibuson

Adverts

  • Index
  •  » Bài Viết
  •  » Bài cú của Nhật Bản và ngũ ngôn yết hậu của Việt Nam

#1 2011-08-10 14:18:14

kgr
ngắm trăng
Registered: 2011-03-30
Posts: 2038

Bài cú của Nhật Bản và ngũ ngôn yết hậu của Việt Nam

Vietsciences- Thuần Ngọc 24/01/2006

            Bài cú, âm theo tiếng Hán Việt [1] cách viết “Haiku” 俳句theo lối chữ Kanji 漢字, (Kanji = Hán Tự - chữ Hán, chữ Nhật Bản, gốc chữ Nho), là một thể thơ rất thịnh hành của Nhật Bản.  Một bài thơ theo thể thơ bài cú có ba giòng,  giòng đầu và giòng cuối mỗi giòng có năm âm, ôm lấy giòng giữa có bảy âm, có dạng 5-7-5, tổng cộng 17 âm.   Tiếng Nhật Bản đa âm, nên mỗi giòng có thể có một, hai, ba chữ hay nhiều hơn.  Bài cú có biến thể là 5-7-6 hay 5-8-5, lên 18 âm trọn bài.

           Theo K. Yasuda (2002), thường thường người đọc một bài thơ bài cú sẽ nhận biết được vì sao tác giả dừng lại để viết bài thơ này.  Qua ba câu ngắn gọn của bài thơ , người đọc cũng xác định được không gian,  nơi chốn tác giả dừng lại và thời gian trong năm cùng trong ngày, lúc tác giả dừng lại.  Một bài thơ bài cú gói ghém đầy đủ trong 17 âm, lý do, không gian và thời gian nảy sinh bài thơ.  Vì số chữ bị giới hạn trong 17 âm (tuy có khi du di ít hoặc nhiều âm hơn), thơ bài cú thường chỉ diển tả một sự kiện xảy ra ngay lúc đó, ở thì hiện tại.  Sự kiện này có thể liên kết hai ý nghĩ, hay hai ý tưởng  khác nhau mà ít khi người ta nghĩ đến cùng một lúc. lúc.

            Ðọc thơ bài cú, ta cảm được vị trí đứng ở ngoài sự kiện của tác giả.  Tác giả dường như chỉ chia sẻ với người đọc một sự kiện đã quan sát được.  Nhưng người đọc vẫn có thể nghiệm được tình cảm của tác giả, một tình cảm nhè nhẹ, bàng bạc trong cả 17 âm, nói lên niềm vui sống hay sự cô đơn, đôi khi cũng nêu ra điểm tác giả thắc mắc về cuộc đời của con người: ngắn ngủi,  phù du, trước sự vĩnh hằng của thiên nhiên.

            Phần lớn thơ bài cú của các thi sĩ Nhật Bản  nói về bốn mùa xuân, hạ, thu, và đông tuy không nêu ra hẳn tên mùa trong năm.  Họ thường dùng những chữ liên quan đến mùa xuân, như “tan tuyết,”  lúc “hoa mận nở, hoa đào nở,” hoặc đến lúc “ngỗng trời quay về.”   Về mùa thu, họ hay tả “đêm thanh, trời vằng vặc đầy sao,” lúc “bóng nai thoáng qua rừng,” hay là “chuồn chuồn bay chập chờn,” khi người ta “gặt lúa.”   Mùa hè có “muỗi,” có tiếng “ve ra rả,” hoặc tiếng “quạt,”  hay tiếng “suối róc rách.”  Mùa đông không tránh được cảnh “tuyết rơi” trong hay ven “rừng thông,” “gấu,” hay là tiếng củi hoặc than nổ tí tách trong “lò sưởi.”  Dường như các tác giả bài cú người Nhật không bao giờ nói đến lũ lụt, động đất, bệnh tật ... những cái không tốt của thiên nhiên.

            Vào đầu thế kỷ thứ 12, ở Nhật bản chỉ có thể thơ waka 和歌 [Hòa Ca, có lẽ dịch là bài ca Nhật, hoặc thơ ca Nhật Bản - chữ Hòa có nghĩa là nước Nhật (tên dùng cũ, hiện nay vẫn dùng như trong ví dụ Wafu ryori 和風料理 = Hòa Phong Liệu lý = món ăn (kiểu) Nhật], bài ca bằng thơ (hay ca thi).   Mỗi bài thơ gồm hai đoạn, đoạn đầu có ba giòng năm, bảy, và năm (5-7-5) âm, đoạn sau gồm hai giòng, mỗi giòng bảy (7-7) âm để nối vào đoạn trước.  Trong những buổi triều hội dưới trướng một sứ quân, một người (thường là quý tộc, quan lại hay võ sĩ cao cấp) sẽ đặt đoạn đầu (5-7-5) âm, đọc lên và một người khác, hoặc được chỉ định, hoặc tự nguyện, đặt và đọc hai giòng đoạn sau (7-7) để nối với đoạn trước làm thành một bài ca thi.   Thi hứng được khơi như thế, có người sẽ đặt tiếp một đoạn đầu, nối vào bài trước và một người sẽ làm đoạn sau để tiếp cho trọn bài ca thi mới.  (Hakutani & Tener, 1998)

            Vào năm 1235 công nguyên, Fujiwara no Sadaiye đã chép một bài trường thiên ca thi tựa là Hyakunin Isshu (Một trăm bài thơ của một trăm tác giả) trong đó có rất nhiều đoạn đầu gồm 5-7-5 âm (Hakutani & Tener, 1998)  Sau bài trường thiên ca thi này, thể thơ renga gồm cách nối các đọan thơ 5-7-5 âm với các đoạn thơ nối 7-7 âm trở nên rất thịnh hành.  Tập thơ Chikuba Kyojin Shu (Tập thơ của những người điên ở Chikuba) chép gần 200 đoạn thơ nối vào các đoạn thơ đầu của một thi sĩ khác.  Trong tập có chép khoảng 20 đoạn đầu mang tên là hokku (thơ mở đầu) và do những thi sĩ đã nổi tiếng xướng ra, nhưng ý thơ ngã về sự đùa chơi, vui cười.  (Hakutani & Tener, 1998)

            Ðến thập niên 1680, Matsuo Bashô (Matsuo Baseo 松尾芭蕉) viết bài thơ Con ếch  theo lối haikai một thể thơ mới (theo thời điểm bấy giờ) mở đường cho thể thơ bài cú.  Các bài Haikai của Bashô ngắn, gọn, rất súc tích từ chữ đến ý, cho thấy cái nhìn và thi tứ của nhà thơ.  Những người ngưỡng mộ ông tập làm lối thơ này, và thể haikai trở nên nghiêm trang, chín chắn hơn để trở dần thành thể bài cú, nói lên cái quan niệm và ghi lại sự rung động của nhà thơ.

            Sau đây là vài thí dụ về bài cú ghi theo chữ rômaji (âm tiếng Nhật ghi theo mẫu tự La tinh).  Bashô là người mở đầu cách viết thơ bài cú, và sau đó, Buson, Issa, và Shiki là những các thi sĩ Nhật bản nổi tiếng về thể thơ này.  Chúng tôi cũng ghi lại một bài của nữ thi sĩ Kaga no Chiyo, đồng thời với Buson.  Phần tiếng Việt do Thuần Ngọc dịch, bản dịch tất nhiên không gồm 17 âm như nguyên tác.  Ðôi khi vì muốn dịch theo ý, nên thứ tự giòng trong bài thơ dịch không đúng theo thứ tự của nguyên tác.


Matsuo Bashô (1644-1694)  - Tác giả  松尾芭蕉 (Matsuo Baseo)

Mono ieba
Kuchibiru samushi
Aki no kaze
   
Mở miệng ra, tôi nói,
Ðôi môi tôi lạnh giá
gió mùa thu.   


Furu ike ya
Kawazu tobikomu
Mizu no oto
   
Cái ao xưa
Một chú ếch nhảy tòm xuống
Chủm ! 


Kare eda ni
Karasu no tomari keri
Aki no kure
   
Quạ đậu lại
Thu âm u. 



Kaga no Chiyo (1703 - 1775) - Nữ thi sĩ 千 (Chiyo Jyo) = Thiên-Đại Nữ

Asagao ni
Tsurube torarete
Morai mizu
   
Cánh hoa khiên ngưu nở
Nghiễm nhiên chiếm trọn chiếc gàu giếng
Tôi phải xin nhờ nước



Taniguchi (Yosano) Buson (1715-1783) -  Họa sĩ  (Yosa Buson)

Oikaze ni
Susuki karitoru
Okina kana
   
Một ông lão cắm cúi
Cắt cỏ trên cánh đồng
Gió thổi đằng sau lưng



Kobayashi Issa (1763-1827) - Tăng lữ 

Katasumuri
Sorosoro nobore
Fuji no yama
   
Này này cô ốc sên
chậm rãi, khoan thai mà bò lên
Ðỉnh núi Phú sĩ sơn.



Masaoka Shiki (1867-1902) - Canh tân bài cú

Iriguchi ni
Mugi hosu ie ya
Furu-sudare
   
Họ đang phơi bo bo
Phía trưóc cửa nhà kho
Mành tre cũ đong đưa.


Trong văn chương Việt Nam thời trước, chúng tôi không thấy có lối thơ bài cú, nhưng thấy có lối ngũ ngôn tứ tuyệt, thể yết hậu. Vì tiếng Việt hiểu theo cách bình thường là đơn âm nên thơ ngũ ngôn như lối này có 16 chữ, hay 16 âm, ngắn hơn bài cú một âm.  Có lẽ người đã làm nhiều bài thơ ngủ ngôn yết hậu là Chiêu Lỳ, Phạm Thái .  Nhưng trong thơ của Phạm Thái, câu thứ ba thường có sáu chữ, nên trọn bài thơ có 17 chữ hay 17 âm.  Xét về số âm trong bài, loại thơ này cũng giống như bài cú.  Ngoài Phạm Thái còn có Nguyễn Công Trứ cũng sính làm loại thơ tứ tuyệt yết hậu.  Nhưng chúng tôi chỉ được đọc các bài thơ thất ngôn (bảy chữ) chứ chưa được biết Nguyễn Công Trứ có bài thơ nào thuộc loại ngũ ngôn tứ tuyệt yết hậu.  Ba thí dụ sau là thơ của Phạm Thái (Trần Trọng Kim, 1946, trang 146)..

Lươn    [2]

Cứ nghĩ rằng mình ngắn
Ai ngờ cũng dài đườn
Thế mà còn chê trạch

Lươn


Người hay đánh bạc

Ác lặn xăm xăm tới ,
Gà kêu lẻn lẻn về .
Quan ngắn hết, quan dài hết
Ghê


Người say rượu

Một năm mười hai tháng
Một tháng ba mươi ngày
Hũ lớn cạn, hũ bé cạn
Hay !



Gần đây hơn, khi có nhiều bài thơ bài cú được chuyển dịch sang Việt ngữ, người Việt có dịp làm quen với văn thơ Nhật bản, và chắc cũng do ảnh hưởng của Thiền nhờ các nhà sư Việt Nam du học ở Nhật bản truyền đạt lại, chúng tôi thấy xuất hiện một số thơ có dạng như bài cú viết bằng tiếng Việt.  Trong tập Cảo thơm, Hồ Trường An ghi lại một số bài thơ của Trương Anh Thụy.


Ðông

Nắng ươm cành tuyết đậu
đóa mai vàng bên giậu
tưởng xuân


Yên

Sau trận đại cuồng phong
con diều nằm trên cỏ
đói gió


Tỵ nạn

Nối đuôi nhau kiến cỏ
Ði tìm nơi lặng gió
Trăm con



Và một bài ngũ ngôn yết hậu


Lặng

Trên bãi sông triều vắng
đàn vịt đứng dăm con
lắng tai nghe chiều đổ
Boong



Các bài thơ trên rất gần với cái nhìn và cảm xúc của thể thơ bài cú.



            Bài cú không những được ưa chuộng ở Nhật bản [3], mà hầu như khắp nơi trên thế giới đều có người làm thơ bài cú.  Ở Âu châu cũng như ở Bắc Mỹ có rất nhiều Hội bài cú, hội viên đủ mọi thành phần và lứa tuổi.  Ở Vancouver (Canada), ở Nantes (Pháp), và nhiều thành phố khác, đã có các trường dạy học sinh ngay từ các lớp tiểu học làm thơ bài cú [4]..  Thành ra cũng nên giới thiệu với thế giới thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt yết hậu của Việt Nam, một thể thơ không kém phần đặc sắc và súc tích như bài cú.




Ghi chú:

[1] Theo Nguyễn văn Minh Châu (điện thư 16/8/2004) phải đọc là “Bài cú”  theo âm Hán Việt.

[2]  Dương Quảng Hàm có chép bài này trong Việt Nam Văn Học Sử Yếu, nhưng để tác giả là Vô Danh. (trang 134).

[3] Như trường hợp bà Hisajo Sugita (1890 ~ 1946) 杉田久女.  Năm 1931, bà dự cuộc thi bài cú do Nhật báo Osaka-Mainichi Daily News tổ chức.  Bài thơ sau đây của bà đoạt giải nhất về thơ bài cú tả cảnh sơn thủy trong số hơn 100 000 người dự thi  Trong lúc vừa mới xong cơn khủng hoảng kinh tế thế giới và khi chưa có Internet, số lượng người dự thi đã cho thấy mức độ hâm mộ thơ bài cú.



kodama shite
yama-hototogisu
hoshii mama
   
trùng trùng dội quanh đèo
tiếng cúc cu chim cu núi  kêu
lập đi lập lại hoài


[4] http://k12.albemarle.org/MurrayElem/Pro … intro.html

Do cô giáo lớp Ba Michelle Nettesheim, trường tiểu học Murray lập ra cho học trò  tìm hiểu thêm về Nhật Bản trong niên học 1995-1996.


Tài liệu tham khảo
Dương Quảng Hàm.  1979.  Việt Nam Văn Học Sử Yếu.  Westminster, CA: Sống Mới.

Hakutani, Yoshinobu & Robert L. Tener. 1998.  "Afterword"  trong Wright, Richard . 1998. Haiku.  This Other World. New York: Arcade Publishing.

Hồ Trường An. 1998.  Cảo thơm  Falls Church, VA: Minh Văn Corporation

Trần Trọng Kim. 1946.  Việt Thi.  Los Alamitos CA: Xuân Thu in lại, không đề năm.

Yasuda, Kenneth.  2002. The Japanese Haiku. Boston: Tuttle Publishing.


Tài liệu đọc, xem thêm:

Ueda, Makoto.  2003.   Far Beyond the Field: Haiku by Japanese Women.  Washington DC: Columbia University Press. - [Ghi thơ bài cú của các nữ thi sĩ Nhật.]

Và các trang, khu Web:

1. CHILDREN'S HAIKU GARDEN (Vườn bài cú của trẻ em).  [Bài cú do trẻ Nhật Bản, Hoa kỳ và nhiều quốc gia khác viết.]

            http://www.tecnet.or.jp/~haiku/

2. Khu Web ghi các bài thơ bài cú do trẻ em ở Nhật bản, Hoa kỳ, và nhiều quốc gia khác viết ra.  Có nhận thơ bài cú và tranh ảnh do trẻ em viết hay vẽ.

            http://homepage2.nifty.com/haiku-eg/

3. http://www.toyomasu.com/haiku/ tổng quát về bài cú. Và trong khu Web này, xem thêm             http://www.toyomasu.com/haiku/haiku/#howtowritehaiku      (Ðể viết một bài thơ bài cú).

4.  Trang web “Lịch sử Bài cú” (Haiku no rekishi):

            http://www.big.or.jp/~loupe/links/jhist … sajo.shtml

Trang tiếng Nhật:

http://www.big.or.jp/~loupe/links/jhist … sinx.shtml

Trang tiếng Anh:

http://www.big.or.jp/~loupe/links/enginx.shtml



5. Một khu haiku mới do Alexander Lawrence và đồng bạn lập ra. Có nhận thơ bài cú do các thi sĩ mới gởi đến. Cho nhiều liên kết (links) có chọn lọc và xấp loại.
            http://www.haiku.com/

6. "200 Best Haiku of Japanese Literature." Ghi lại hai trăm bài thơ bài cú đã dịch ra Anh ngữ.

            http://www.geocities.com/Tokyo/Island/5022/

7. Trang nhà của Hiệp hội bài cú Hoa kỳ (The Haiku Society of America).  Hội thành lập từ năm 1968 nhằm phỗ biến và khuyến khích thơ bài cú viết bằng tiếng Anh.

            http://www.hsa-haiku.org/

8. Trang ghi lại kỹ thuật làm thơ bài cú (Haiku techniques) của nữ tác giả Jane Reichhold.            http://www.ahapoetry.com/haiartjr.htm

Offline

 

2011-08-10 14:18:14

AdBot
Advertisements
  • Index
  •  » Bài Viết
  •  » Bài cú của Nhật Bản và ngũ ngôn yết hậu của Việt Nam

Adverts

Board footer

Powered by FluxBB
Hosted by PunBB-Hosting